Thiết kế thương hiệu kết thúc ở tay người khác: thợ in, thợ biển, thợ may, nhân viên làm bài đăng. Những người ấy làm việc với vật liệu, máy móc và thời hạn có thật, thường không có người thiết kế đứng cạnh. Chương này bàn phần việc giữa bản duyệt và vật thật: cái gì phải quyết trước, cái gì phải ghi ra, và vì sao một bộ nhận diện là bộ luật chứ không phải tập bản vẽ.
Đọc nhanh: câu chốt, lúc gặp và việc mang về. Đọc đủ mở thêm lập luận, ranh giới và nguồn. Mỗi nguyên lý đứng trước các phép nghề của nó, nên số điều không chạy liền.
Bản vẽ vượt năng lực xưởng thường không bị từ chối mà bị làm lại lặng lẽ, nên bản duyệt phải tính tới xưởng sẽ làm, và chỗ cố ý vượt phải thử bằng mẫu thật.
Gặp khiKhi thiết kế cho in ấn, bao bì, biển hiệu, nội thất cửa hàng, đồng phục, vật phẩm; nhất là khi bản thiết kế dùng hiệu ứng, vật liệu hay cách gia công mà xưởng địa phương ít làm.
Phân xử
Thiết kế cho năng lực có thật ở nơi sẽ làm; chỗ nào cố ý vượt năng lực ấy thì phải biết là đang vượt, trả tiền cho việc vượt, và kiểm chứng bằng mẫu thật trước khi chốt (10.05).
Lập luận đầy đủ
Hai điều đều tốt kéo ngược nhau
Thiết kế theo chuẩn tốt nhất thế giới thì đẩy được chất lượng lên, và có lúc chính đòi hỏi ấy kéo xưởng làm tốt hơn. Thiết kế theo năng lực thi công có thật thì chắc ra đúng thứ đã duyệt.
Vì sao đúng
Vật liệu, máy móc và tay nghề mỗi nơi mỗi khác (0.5). Bản thiết kế bỏ qua điều kiện ấy thường không bị từ chối; nó bị làm lại một cách lặng lẽ theo cách rẻ nhất xưởng làm được: nét quá mảnh được làm dày lên, màu không pha được thì lấy màu gần nhất, kết cấu khó thì đổi kết cấu. Mỗi lần như vậy là một quyết định thiết kế được đưa ra bởi người không đứng tên chịu trách nhiệm cho nó (0.3), và thường không ai báo lại. Thứ ra khỏi xưởng không còn là thứ đã duyệt, trong khi khách thì chỉ gặp thứ ra khỏi xưởng. Điều này không nói duyệt bản trình trên màn hình là sai: bản trình là chỗ chốt hướng và chốt hình, làm từ xa được. Nó chỉ chưa phải chỗ chốt vật thật; việc ấy là duyệt mẫu sản xuất (10.05), một bước khác.
Khi nào điều này sai
Vật phẩm làm một lần, số lượng rất ít, có ngân sách cho thủ công đặc biệt thì được vượt năng lực thông thường, vì người làm được chọn riêng. Khi doanh nghiệp làm việc lâu dài với một xưởng và cùng nâng chuẩn của xưởng ấy, đòi hỏi vượt năng lực là một khoản đầu tư có chủ đích, không phải lỗi.
Theo nó thì mất gì
Bỏ một số hiệu ứng đẹp trên màn hình. Người thiết kế phải hỏi xưởng, hỏi thợ, xin mẫu, chịu mất thời gian cho những câu hỏi không ai thấy trong bản trình.
Chốt vật liệu, khổ vật liệu và cách gia công của từng điểm chạm vật lý trước khi chốt hình cho nó.
Gặp khiĐầu dự án có bao bì, ấn phẩm in số lượng lớn, vật phẩm điểm bán; và khi doanh nghiệp tự đặt xưởng làm biển hiệu, đồng phục, nội thất cửa hàng. Điểm chạm ở đây là mọi chỗ khách gặp thương hiệu. Ở món tự đặt xưởng, người đặt hàng hỏi xưởng mà lập tờ ràng buộc.
Phép thử mang về
(1) Liệt kê mọi điểm chạm vật lý của dự án. (2) Với mỗi điểm chạm, hỏi xưởng sẽ làm, hoặc một xưởng cùng loại, và ghi ra: vật liệu, khổ tấm hay khổ cuộn hay khổ giấy máy in, số màu in được, cách gia công (cắt, bế, khắc, thêu, uốn, dán), chỗ phải có mối nối, ngân sách gia công, số lượng đặt tối thiểu, chi phí làm khuôn một lần (khuôn bế, khuôn dập, số hoá mẫu thêu) và thời gian gia công. Số lượng ít thường là thứ buộc đổi cách làm: hộp cứng, dập nổi hay chỉ thêu riêng màu có khi chỉ hợp lý từ một số lượng nhất định. (3) Gộp thành một tờ ràng buộc cho từng điểm chạm và đưa người thiết kế trước khi vẽ. Khổ vật liệu quyết định mối nối nằm ở đâu trên biển lớn; khổ giấy quyết định một tờ in ra được bao nhiêu con, tức là giá; với bao bì, khuôn bế là bản vẽ kỹ thuật phải chốt trước lớp hình. Đạt: bản thiết kế đầu tiên đưa xưởng không phải đổi vật liệu hay cách làm. Hỏng: hình đã duyệt rồi mới hỏi xưởng làm được không.
Làm mẫu thật trên đúng vật liệu, ở đúng xưởng sẽ làm loạt, đặt ở đúng chỗ sẽ dùng, rồi mới làm số lượng.
Gặp khiTrước khi in loạt bao bì, sản xuất biển cho nhiều điểm bán, may đồng phục, làm vật phẩm số lượng lớn.
Phép thử mang về
Đây là duyệt mẫu sản xuất, việc khác với duyệt bản trình: bản trình chốt hình và làm từ xa được; mẫu sản xuất chốt vật thật, nên phải xem tận nơi. (1) Mẫu phải ra từ chính xưởng và chính máy sẽ làm loạt; mẫu đẹp từ một nơi khác không chứng minh gì cho loạt. Riêng in offset, in thử trên chính máy loạt thường quá đắt với số lượng vừa: duyệt bản in thử kỹ thuật số làm đúng điều kiện in, rồi người duyệt đứng tại máy, ký tờ in đầu đạt màu làm mẫu nghiệm thu; bản in thử số không cho thấy giấy thật, cán màng, ép kim, bế, nên bao bì thêm một mẫu bế trắng trên giấy thật. (2) Biển lớn không làm mẫu trọn được thì làm một đoạn đúng tỉ lệ một một chứa phần khó nhất: một chữ có dấu tách rời (9.08), một mối nối, một góc hộp đèn; xem cả ban ngày và lúc đèn bật buổi tối. (3) Đặt mẫu ở chỗ dùng thật hoặc trong điều kiện gần nhất: trên kệ, ngoài trời, trong tay người dùng. (4) Người duyệt xem bằng mắt tại chỗ, màu thì xem dưới đèn chuẩn và dưới đèn nơi bán, là chủ doanh nghiệp hay người được giao duyệt; ảnh chụp điện thoại chỉ để báo, không để chốt, vì ảnh đổi màu. (5) Ký lên mẫu đạt, ghi tên người duyệt và ngày, mỗi bên giữ một bản; nghiệm thu hàng loạt bằng cách so với mẫu ấy. Đạt: hàng loạt được nghiệm thu bằng một vật cầm được. Hỏng: tranh cãi về màu hay độ chắc diễn ra sau khi đã làm cả loạt.
Bản giao đúng là bản người thợ làm đúng được khi không có người thiết kế đứng cạnh, vì nó ghi rõ đích, dung sai và chỗ được phép thay.
Gặp khiKhi soạn tệp sản xuất, bản vẽ thi công, tờ ghi chú kỹ thuật cho nhà in, xưởng biển, xưởng may; và khi nghiệm thu hàng làm xong.
Phân xử
Ghi đủ mọi thứ mà nếu sai sẽ phải làm lại hay sẽ thành tranh cãi lúc nghiệm thu; phần còn lại để cho tay nghề.
Lập luận đầy đủ
Hai điều đều tốt kéo ngược nhau
Bản giao gọn tin vào tay nghề thợ, ít chữ, đẹp, thợ giỏi không thấy bị dạy. Bản giao đầy đủ thông số thì dài, tốn công soạn, nhưng không để chỗ cho đoán.
Vì sao đúng
Điều kiện tệ nhất của thi công thường không phải máy kém mà là người làm không gặp người thiết kế: thợ ca đêm, xưởng nhận lại việc từ xưởng khác, người lắp đo tại chỗ thấy tường không phẳng và kích thước thật khác bản vẽ. Ở những chỗ ấy, điều gì không ghi thì thợ đoán, và đoán theo cách quen tay nhất. Dung sai là phần hay bị bỏ nhất. Ngành in offset đã ghi dung sai thành chuẩn (ISO 12647-2:2013, chỉ áp cho in offset); biển, may, sơn thì người giao việc phải tự ghi dung sai vào bản giao. Thiếu dung sai thì nghiệm thu không có thước: hoặc mọi độ lệch đều được cho qua, hoặc độ lệch nào cũng thành tranh cãi giữa khách và xưởng, và người thiết kế phải đứng ra phân xử bằng cảm giác. Ghi sẵn chỗ được phép thay, và thay bằng gì, biến một quyết định thợ sẽ phải tự đưa ra thành một quyết định đã được đưa ra.
Khi nào điều này sai
Làm với một xưởng quen lâu năm, có người thiết kế có mặt lúc làm, thì ghi ít hơn được; nhưng những gì dùng để nghiệm thu vẫn phải viết ra, vì người nghiệm thu chưa chắc là người có mặt.
Theo nó thì mất gì
Thời gian soạn bản giao, và người thiết kế phải hiểu vật liệu đủ để biết dung sai nào là hợp lý, không thể ghi con số cho có.
Nguồn
ISO 12647-2:2013, Graphic technology, Process control for the production of half-tone colour separations, proof and production prints, Part 2: Offset lithographic processes (chỉ áp cho in offset; dẫn làm ví dụ ở cơ chế)
Thông số nào sai là phải làm lại thì ghi bốn ô: đích, dung sai, cách đo, cách thay; ô cách thay nói rõ được bỏ gì, phải giữ gì, gì không bao giờ thay.
Gặp khiSoạn tờ ghi chú kỹ thuật kèm tệp sản xuất, bản vẽ thi công biển, quy cách đồng phục.
Phép thử mang về
(1) Liệt kê thông số mà nếu sai thì phải làm lại: màu chủ, kích thước dấu hiệu, vị trí trên vật, vật liệu bề mặt, độ sáng đèn, khoảng trống quanh dấu hiệu. (2) Với mỗi thông số ghi bốn ô: đích; dung sai; cách đo (màu so với mẫu đã ký dưới cùng nguồn sáng, theo 8.05; kích thước đo bằng thước ở đâu); và cách thay, tức nếu không làm được đích thì thay bằng gì. (3) Ở ô cách thay, ghi thứ tự ưu tiên: giữ gì, được bỏ gì. Ví dụ giả định: không có nhũ đúng màu thì in màu pha thay, không giả nhũ bằng bốn màu; mica đúng màu không có thì dán decal trong mờ đúng màu lên mica trắng sữa cho hộp đèn. (4) Ghi riêng những điều không được thay trong mọi trường hợp. Đạt: một xưởng khác đọc bản giao và tự nói được khi nào phải gọi hỏi lại. Hỏng: bản giao chỉ có hình và kích thước tổng.
Hệ nhận diện là bộ luật sinh ra những bản chưa ai vẽ, không phải tập bản đã vẽ sẵn.
Gặp khiKhi định phạm vi một bộ nhận diện, khi khách hỏi bộ này gồm bao nhiêu món, và khi doanh nghiệp bắt đầu tự làm ấn phẩm sau bàn giao.
Phân xử
Món dùng một lần, đắt và quan trọng thì vẽ riêng; món lặp lại hằng ngày thì sinh ra từ luật, vì số lượng của chúng thắng.
Lập luận đầy đủ
Hai điều đều tốt kéo ngược nhau
Tập bản vẽ hoàn chỉnh thì chắc: từng món được chăm chút, duyệt được, đẹp ngay. Bộ luật thì sinh ra được những món chưa có, nhưng món sinh từ luật bởi người không chuyên có thể kém đẹp hơn món người thiết kế vẽ tay.
Vì sao đúng
Sau bàn giao, doanh nghiệp tạo ra điểm chạm mới mỗi tuần: bài đăng, bảng giá, biển khuyến mãi, thư mời, tờ hướng dẫn. Số món ấy trong một năm nhiều hơn mọi tập bản vẽ, và món nào không có trong tập sẽ được ai đó vẽ theo gu của họ. Luật, gồm lưới, thang cỡ, quy tắc màu, khoảng trống và khuôn, chuyển quyết định thiết kế thành những lựa chọn đã thu hẹp, nên người không chuyên vẫn ra kết quả nằm trong hệ, và cái lặp lại giống nhau qua nhiều tay ấy mới tích thành nhận biết (0.4). Ý tưởng thiết kế bằng chương trình thay vì bằng bản vẽ không mới: Karl Gerstner đã đặt nó thành phương pháp từ năm 1964. Đây là mặt thi công của điều 4.01: doanh nghiệp cần một hệ, và hệ ấy chỉ sống khi nó được giao dưới dạng luật.
Khi nào điều này sai
Doanh nghiệp rất nhỏ, ít điểm chạm, ít khi làm ấn phẩm mới thì vài bản vẽ hoàn chỉnh là đủ; viết luật cho một cửa hàng một biển là làm thừa. Luật quá nhiều thành cuốn cẩm nang không ai đọc; luật chỉ nên có ở chỗ nếu để tự do thì hệ sẽ vỡ.
Theo nó thì mất gì
Phải đầu tư viết luật và dựng khuôn, việc khó trình bày hơn một tập hình đẹp. Món sinh ra từ luật ít bất ngờ, và người thiết kế phải chấp nhận để người khác làm ra những bản mình chưa duyệt từng cái.
Nguồn
Karl Gerstner, Designing Programmes, Arthur Niggli, 1964
Josef Müller-Brockmann, Grid Systems in Graphic Design, Arthur Niggli, 1981
Giao khuôn đã khoá phần không được đụng và chỉ mở phần được sửa, rồi thử khuôn bằng nội dung xấu nhất có thật.
Gặp khiKhi bàn giao khuôn bài đăng, bảng giá, tờ rơi, danh thiếp, biển khuyến mãi cho nhân viên không chuyên thiết kế. Phần khuôn nằm ở phần mềm nào thì theo 11.06; điều này bàn khuôn được dựng ra sao.
Phép thử mang về
(1) Chia mỗi khuôn thành hai lớp: lớp khoá (dấu hiệu, lưới, màu nền, khoảng trống) và lớp mở (chữ, ảnh, giá). Lớp mở phải có giới hạn: ô chữ có cỡ chữ cố định, ô ảnh có khung cắt. (2) Điền khuôn bằng nội dung xấu nhất có thật: tên sản phẩm dài nhất đang bán, giá nhiều chữ số nhất, chữ hoa có dấu chồng (9.02), ảnh chụp điện thoại thiếu sáng. (3) Giao cho một nhân viên chưa từng dùng, nhờ làm ba bản thật. Đạt: ba bản vẫn trong hệ mà không cần hỏi. Hỏng: chữ tràn khung, nhân viên phải mở khoá để sửa, hay tự kéo dấu hiệu cho vừa chỗ.
Đưa hệ cho một người chưa từng thấy nó dựng một ấn phẩm không có trong bộ; chỗ họ làm sai là chỗ luật còn thiếu.
Gặp khiTrước khi bàn giao cẩm nang, và mỗi lần cẩm nang được sửa lớn.
Phép thử mang về
(1) Chọn một ấn phẩm chưa có trong bộ nhưng doanh nghiệp sẽ cần: thẻ bảo hành, biển giờ mở cửa, thư mời sự kiện. (2) Đưa cẩm nang và bộ tệp cho một người thiết kế ngoài dự án, hoặc cho nhân viên sẽ giữ chuẩn, không giải thích thêm. (3) Ghi lại mọi câu họ phải hỏi trong lúc làm: mỗi câu là một chỗ cẩm nang chưa nói. (4) So bản họ làm với hệ: lỗi nào nhiều người cùng mắc là luật thiếu hoặc luật mơ hồ, lỗi chỉ một người mắc là tay nghề. Sửa luật, không sửa người. Đạt: bản làm ra nằm trong hệ, và câu hỏi chỉ về nội dung, không về cách dùng hệ. Hỏng: người làm phải đoán màu nào, cỡ nào, đặt dấu hiệu ở đâu.