Phần lớn tiền làm thương hiệu mất đi không vì vẽ xấu mà vì quyết sai thứ cần vẽ: mua từng món khi bài toán là một hệ, nói với mọi người khi cần chọn một điều để được nhớ, đặt tên sản phẩm mới khi chưa quyết các tên sẽ đứng cạnh nhau ra sao. Chương này bàn những quyết định ấy, và cách kiểm một câu chiến lược có thật sự làm việc hay chỉ trang trí cho đề bài.
Đọc nhanh: câu chốt, lúc gặp và việc mang về. Đọc đủ mở thêm lập luận, ranh giới và nguồn. Mỗi nguyên lý đứng trước các phép nghề của nó, nên số điều không chạy liền.
Được mua lẻ về tiền và tiến độ, không được mua lẻ về luật: mọi điểm chạm phải theo một bộ luật quyết trước món đầu tiên.
Gặp khiKhi doanh nghiệp đặt làm logo năm nay, website năm sau, bao bì năm sau nữa, mỗi lần một bên khác nhau; khi báo giá được xin và so theo từng món. Điểm chạm ở đây là mọi chỗ khách gặp thương hiệu: biển hiệu, bao bì, website, mẫu báo giá, đồng phục, tin nhắn.
Phân xử
Được mua lẻ về tiền và về tiến độ, không được mua lẻ về luật. Món nào làm lúc nào cũng được, miễn mọi món theo cùng một bộ luật đã quyết trước món đầu tiên (6.01).
Lập luận đầy đủ
Hai điều đều tốt kéo ngược nhau
Mua lẻ thì chi theo dòng tiền, mỗi món chọn được người giỏi nhất ở món ấy, và không phải cam kết một khoản lớn khi chưa chắc. Mua theo hệ thì các món cộng lại thành một nhận biết, không thành năm phiên bản của cùng một doanh nghiệp.
Vì sao đúng
Nhận biết chỉ tích luỹ từ thứ được lặp lại giống nhau (0.4). Bên làm một món rời phải tự suy ra luật từ chính món mình nhận: màu chỉnh một chút cho hợp màn hình, chữ đổi sang kiểu đặc hơn cho bao bì, khoảng trống quanh logo co lại cho vừa biển. Từng quyết định đều hợp lý tại chỗ, cộng lại thì doanh nghiệp có nhiều bản của chính mình. Món làm đầu tiên, thường là logo, lại được tối ưu cho tờ trình duyệt vì người vẽ không biết nó sẽ phải sống ở cỡ ảnh đại diện, trên vải thêu hay trên hộp đèn. Chi phí của mua lẻ không hiện trên báo giá nào; nó hiện ở công sức tự ghép các món, thường do người không làm nghề ghép, và ở hoá đơn đồng bộ lại vài năm sau.
Khi nào điều này sai
Doanh nghiệp mới đang thử thị trường, chưa biết mình sẽ sống ở những điểm chạm nào, làm một món tối thiểu là hợp lý, miễn ghi rõ là tạm và tính trước chi phí làm lại (6.06). Doanh nghiệp đã có bộ luật vững và có người giữ chuẩn (11.04) thì đặt từng món theo luật ấy là cách vận hành đúng, không phải mua sai đơn vị. Đã lỡ có món mà chưa có luật thì quyết luật ngay bây giờ, lấy món đang dùng làm điểm xuất phát; các món sau theo luật ấy.
Theo nó thì mất gì
Phải dành thời gian và một phần tiền để quyết luật trước khi có món đầu tiên để dùng; mất tự do cho mỗi món một phong cách theo cảm hứng của người làm món ấy.
Nguồn
Jenni Romaniuk, Building Distinctive Brand Assets, Oxford University Press, 2018
Vẽ sơ đồ điểm chạm và đường nối giữa chúng trước khi xin hay lập báo giá, để thấy món nào kéo theo món nào.
Gặp khiTrước khi doanh nghiệp đi xin báo giá, hoặc khi đang cầm nhiều báo giá rời và không biết so thế nào.
Phép thử mang về
(1) Liệt kê mọi chỗ khách gặp doanh nghiệp trong một năm, theo hành trình: nghe nói tới, tìm trên mạng, tới điểm bán, gian hàng trên sàn thương mại điện tử, trang doanh nghiệp trên Zalo (Zalo OA); nhận báo giá, mua, dùng, gọi hỏi hay bảo hành, giới thiệu cho người khác. (2) Mỗi điểm chạm ghi ba ô: ai làm ra nó hằng ngày, bằng công cụ gì, khách thấy nó bao nhiêu lần một năm (ước theo bậc là đủ). (3) Nối hai điểm chạm khi cái này mượn luật của cái kia: màu website mượn từ bao bì, mẫu báo giá mượn chữ từ hồ sơ năng lực, biển hiệu mượn khoá logo. (4) Ô nào nhiều đường nối nhất là chỗ phải quyết luật trước; món định mua lẻ mà nằm đúng ở đó thì mua lẻ là mua sai đơn vị (4.01). Đạt: mỗi hạng mục trong báo giá trỏ được về một ô trên sơ đồ, và sơ đồ chỉ ra được những ô chưa ai phụ trách. Hỏng: báo giá có món không nằm trên sơ đồ, hoặc sơ đồ có điểm chạm khách gặp hằng ngày mà không hạng mục nào chạm tới.
Định vị hẹp ở ý nghĩa, không hẹp ở người mua: chọn một điều để được nhớ, rồi vẫn bán cho bất kỳ ai cần điều ấy.
Gặp khiKhi viết câu định vị, và khi chủ doanh nghiệp sợ nói hẹp sẽ mất khách.
Phân xử
Hẹp ở ý nghĩa, không hẹp ở người được bán cho, cũng không hẹp ở dịp mua. Chọn một điều để gắn vào trí nhớ và bỏ các điều khác khỏi lời nói, vẫn bán cho bất kỳ ai cần điều ấy; độ nổi bật đưa thương hiệu vào trí nhớ, còn lời hứa lọc ra những điểm vào đáng giành.
Lập luận đầy đủ
Hai điều đều tốt kéo ngược nhau
Nói rộng thì không đẩy ai đi, điều rất thật với doanh nghiệp nhỏ cần mọi đơn hàng; nghiên cứu về tăng trưởng thương hiệu còn chỉ ra thương hiệu lớn lên chủ yếu nhờ có thêm nhiều người mua, kể cả người mua thưa, chứ không nhờ một nhóm khách trung thành hẹp. Phe ấy còn nói thẳng hơn: người mua ít khi thấy các thương hiệu khác nhau, độ nổi bật thắng khác biệt, và Romaniuk đòi thương hiệu gắn với nhiều điểm vào của loại hàng, tức những lúc người ta bắt đầu nghĩ tới việc mua (7.11). Nói hẹp thì được nhớ vì một điều.
Vì sao đúng
Người mua để ý rất ít và quên rất nhanh (0.2), nên mỗi thương hiệu chỉ được giữ vài liên tưởng trong đầu họ. Một câu kể đủ chất lượng, uy tín, giá tốt, tận tâm là câu cả ngành cùng nói, nên nó không gắn được vào riêng ai. Chiến lược có giá trị ở chỗ nó đòi đánh đổi: một vị trí không bắt doanh nghiệp bỏ gì thì đối thủ chép được ngay mà không mất gì. Ở bàn vẽ, câu định vị không bỏ gì còn gây hại cụ thể: nó không cho người thiết kế một tiêu chí nào để loại hướng nào (4.08, 5.01), nên chọn hướng lại rơi về gu.
Khi nào điều này sai
Ở ngành hàng thiết yếu, ít khác biệt về công dụng, người mua chọn chủ yếu theo cái quen mắt và cái dễ mua; ở đó câu định vị vẫn cần nhưng gánh ít hơn việc được nhận ra nhanh (1.02, 2.02). Doanh nghiệp chưa biết khách thật của mình là ai thì chọn bỏ là đoán; hỏi khách trước (1.06), chọn sau.
Theo nó thì mất gì
Mất một số khách thấy mình không thuộc điều được nói tới; phải từ chối những cơ hội lệch định vị; chủ doanh nghiệp phải sống với cảm giác để tiền lại trên bàn.
Nguồn
Al Ries và Jack Trout, Positioning: The Battle for Your Mind, McGraw-Hill, 1981
Michael E. Porter, What Is Strategy?, Harvard Business Review, 1996
Byron Sharp, How Brands Grow, Oxford University Press, 2010
Jenni Romaniuk, Better Brand Health: Measures and Metrics for a How Brands Grow World, Oxford University Press, 2023
Viết định vị thành một câu có vế "không phải", và vế ấy phải gạt đi một thứ doanh nghiệp đang tiếc.
Gặp khiKhi đã có bản định vị nháp, trước khi dịch nó thành hướng thiết kế.
Phép thử mang về
(1) Viết theo khuôn: [tên] dành cho [ai], để được nhớ vì [một điều], không phải [điều cố ý bỏ]. Khuôn này phỏng theo câu định vị có vế so với đối thủ của Geoffrey Moore (1991) và câu "chỉ mình chúng tôi" của Marty Neumeier (2006); phần các bước dưới đây soi vế không. (2) Soi vế "không phải": vế ấy bỏ một thứ không ai muốn (không kém chất lượng, không lừa khách) là vế giả. Vế thật bỏ một thứ đối thủ đang làm tốt, hoặc một nhóm khách doanh nghiệp đang có ít nhiều. (3) Đưa câu cho người quyết (3.02) và hỏi: nếu mai có một đơn lớn nằm đúng trong vế không, doanh nghiệp có nhận không? Nhận ngay mà không cần nghĩ thì câu chưa được tin; sửa câu, hoặc ghi rõ ngoại lệ nào được phép. (4) Đưa câu cho một người bán hàng tuyến đầu. Đạt: họ nêu được một loại khách hay một việc họ sẽ từ chối hoặc chuyển đi vì câu ấy. Hỏng: không ai nêu được, tức là câu không đổi được hành vi nào.
Nguồn
Nguồn
Geoffrey A. Moore, Crossing the Chasm, HarperBusiness, 1991
Marty Neumeier, Zag: The Number One Strategy of High-Performance Brands, New Riders, 2006
Mỗi tính từ trong câu chiến lược phải cấm được ít nhất một lựa chọn thiết kế; chữ không cấm được gì là chữ trang trí.
Gặp khiKhi chuyển câu định vị, tính cách thương hiệu hay khung thông điệp thành đề bài cho người thiết kế.
Phép thử mang về
(1) Gạch chân từng tính từ trong câu chiến lược: cao cấp, gần gũi, trẻ trung, đáng tin. (2) Với mỗi chữ, viết ít nhất một điều người thiết kế không được làm vì chữ ấy, đủ cụ thể để người thứ ba kiểm được. Ví dụ giả định: gần gũi cấm xưng quý khách trên mạng xã hội; cao cấp cấm in nhãn khuyến mãi lên mặt trước bao bì. (3) Chữ nào không viết được lệnh cấm thì bỏ khỏi câu, hoặc thay bằng chữ cụ thể hơn. (4) Gộp các lệnh cấm thành một trang, giao cho người thiết kế cùng đề bài, và cho người quyết xác nhận cùng tiêu chí (3.05). Đạt: đặt hai hướng thiết kế khác nhau cạnh nhau, một người không làm nghề cầm trang cấm chỉ ra được hướng nào phạm luật. Hỏng: cả hai hướng đều được khen là hợp chiến lược.
Nguồn
Nguồn
Richard Rumelt, Good Strategy Bad Strategy: The Difference and Why It Matters, Crown Business, 2011
Đặt tên đối thủ vào câu định vị của mình; câu vẫn đúng thì nó mới mô tả ngành hàng, chưa định vị được doanh nghiệp.
Gặp khiKhi soát câu định vị, khẩu hiệu, đoạn giới thiệu trên website và hồ sơ năng lực.
Phép thử mang về
Phép thay tên là phép quen của nghề, không của riêng ai; hai chỗ dưới đây là phần Sinh Vũ thêm vào: bước (4) và lưu ý về câu vé vào cửa. (1) Chọn ba đối thủ mà khách hay đặt lên bàn cân; danh sách này để dùng nội bộ, không đưa ra ngoài. (2) Thay tên mình bằng tên từng đối thủ trong câu định vị, khẩu hiệu và đoạn giới thiệu. (3) Hỏi một người trong ngành: câu này có sai với họ không? (4) Gạch các chữ làm câu đúng với mọi người, như chất lượng, uy tín, tận tâm, hàng đầu, rồi đọc phần còn lại. Đạt: còn ít nhất một vế mà với đối thủ là sai, hoặc họ không dám nhận. Hỏng: câu đúng cho cả ba. Lưu ý: câu đúng cho cả ngành vẫn có thể là câu cần nói, vì nó báo cho khách mình thuộc loại hàng nào (vé vào cửa ở 2.01), nhưng đừng gọi nó là định vị và đừng để nó đứng ở chỗ đáng giá nhất của trang.
Kiến trúc thương hiệu phải quyết trước sản phẩm thứ hai; tới sản phẩm thứ mười, việc ấy không còn là quyết định mà là dọn dẹp.
Gặp khiKhi doanh nghiệp sắp ra dòng sản phẩm mới, mở chi nhánh, mở mảng kinh doanh thứ hai. Kiến trúc thương hiệu là cách các tên và dấu hiệu trong một doanh nghiệp đứng với nhau: một tên mẹ cho tất cả, tên mẹ đỡ tên con, hay mỗi sản phẩm một thương hiệu riêng.
Phân xử
Quyết luật trước sản phẩm thứ hai, và luật ấy có sẵn một cửa ngoại lệ ghi rõ điều kiện mở, chẳng hạn sản phẩm bán cho nhóm khách khác hẳn hoặc mang rủi ro có thể kéo tên mẹ xuống.
Lập luận đầy đủ
Hai điều đều tốt kéo ngược nhau
Quyết từng sản phẩm khi nó ra đời thì linh hoạt, theo đúng thị trường của sản phẩm ấy, không trói tay vì một luật đặt khi chưa biết gì. Có luật từ sớm thì mỗi tên mới cộng vào cùng một tài sản thay vì chia nó ra.
Vì sao đúng
Sản phẩm ra đời khi chưa có luật sẽ được đặt tên theo hoàn cảnh: theo người phụ trách, theo kênh bán, theo đợt khuyến mãi. Tên đã in lên bao bì, treo lên biển, nộp đơn đăng ký thì đổi vừa tốn tiền vừa mất nhận biết, nên mỗi sản phẩm thêm vào làm việc sắp xếp lại đắt hơn sản phẩm trước. Khung phổ quan hệ thương hiệu của Aaker và Joachimsthaler cho thấy mỗi vị trí trên phổ có lợi và giá riêng: dùng chung tên mẹ thì sản phẩm mới được đỡ bằng lòng tin có sẵn, nhưng một sản phẩm hỏng kéo cả họ; tên riêng thì cách ly rủi ro nhưng mỗi tên phải tự xây nhận biết từ đầu. Quyết ở sản phẩm thứ hai rẻ nhất vì lúc ấy chỉ có hai thứ phải xếp và chưa thứ nào đã kịp mọc rễ.
Khi nào điều này sai
Doanh nghiệp chỉ bán một sản phẩm và chưa có kế hoạch mở rộng thì chưa cần cả một kiến trúc; một dòng ghi khi có sản phẩm thứ hai thì quyết theo ba câu ở 4.07 là đủ. Khi mua lại một thương hiệu đã có tên tuổi, luật phải tính tới tài sản ấy, không ép nó vào khung cũ. Ở doanh nghiệp gia đình, tên mẹ còn gánh danh dự gia đình (3.03), nên câu hỏi kéo tên mẹ xuống nặng hơn một phép tính. Việc đăng ký nhãn hiệu cho tên mới cần hỏi người có chuyên môn sở hữu trí tuệ.
Theo nó thì mất gì
Mất tự do đặt tên theo cảm hứng cho từng sản phẩm; có lúc sản phẩm mới phải mang một tên kém hấp dẫn hơn vì luật; tốn một buổi quyết ở thời điểm chưa ai thấy cần.
Nguồn
David A. Aaker và Erich Joachimsthaler, The Brand Relationship Spectrum: The Key to the Brand Architecture Challenge, California Management Review, 2000
Sản phẩm mới mang tên mẹ, tên mẹ đỡ tên con, hay tên riêng: trả lời ba câu hỏi về lòng tin, rủi ro và sức xây trước khi đặt tên.
Gặp khiKhi đặt tên cho sản phẩm, dòng hàng, chi nhánh hay mảng kinh doanh mới.
Phép thử mang về
Ba câu dưới đây phỏng theo bộ câu hỏi chọn kiến trúc thương hiệu của Aaker và Joachimsthaler (Brand Leadership, 2000): tên mẹ có góp gì cho sản phẩm mới, có cần một tên riêng không, doanh nghiệp có nuôi nổi một tên mới không. Phần Sinh Vũ thêm là cách đọc kết quả ở doanh nghiệp vừa và nhỏ. (1) Lòng tin: tên mẹ có giúp sản phẩm này bán được không, tức cùng nhóm khách và cùng lời hứa chất lượng? Nếu tên mẹ làm khách mới nghi ngờ, chẳng hạn tên gắn với hàng bình dân trong khi sản phẩm mới định giá cao, nghiêng về tên riêng. (2) Rủi ro: nếu sản phẩm này hỏng hoặc gây tai tiếng, tên mẹ có chịu nổi không? Rủi ro cao thì giữ khoảng cách. (3) Sức xây: doanh nghiệp có đủ tiền và người để xây nhận biết cho một tên mới từ đầu, ở mọi điểm chạm, trong nhiều năm không? Không đủ thì dùng tên mẹ hoặc tên mẹ đỡ. Đọc kết quả: ba câu cùng chỉ một hướng là quyết xong; hai câu ngược nhau thì ở doanh nghiệp vừa và nhỏ câu (3) thường thắng, vì nguồn lực có hạn (0.5). Ghi lời giải và lý do vào một trang luật kiến trúc. Đạt: người thứ ba đọc trang ấy đặt được tên cho sản phẩm kế tiếp mà không phải hỏi chủ. Hỏng: mỗi sản phẩm mới lại họp lại từ đầu. Tên mới định đăng ký nhãn hiệu thì tra cứu và hỏi người có chuyên môn trước khi in.
Nguồn
Nguồn
David A. Aaker và Erich Joachimsthaler, Brand Leadership, Free Press, 2000