Học thuyết nghề · Chương 4

Chiến lược và định vị

Có thể mua lẻ từng món theo tiền và tiến độ, nhưng mọi món phải theo một bộ quy tắc chung, quyết trước món đầu tiên.
Điều 4.01Nguyên lý · Chiến lược và định vị
Đọc 8 điều: 3 nguyên lý, 5 phép nghề
8 điều trong chương
  1. 4.01Có thể làm từng món cho vừa tiền, nhưng mọi món phải theo chung một bộ quy tắc
  2. 4.06Vẽ sơ đồ mọi chỗ khách gặp thương hiệu trước khi lập báo giá
  3. 4.02Chọn một điều để khách nhớ, nhưng vẫn bán cho bất kỳ ai cần điều ấy
  4. 4.04Viết định vị thành một câu có vế "không phải", dám bỏ một thứ còn tiếc
  5. 4.08Mỗi tính từ trong câu chiến lược phải loại được ít nhất một lựa chọn thiết kế
  6. 4.05Thay tên đối thủ vào câu định vị, câu vẫn đúng thì chưa phải định vị
  7. 4.03Quyết cách các tên sản phẩm đứng cạnh nhau trước khi có sản phẩm thứ hai
  8. 4.07Sản phẩm mới nên dùng tên chung, tên riêng đi kèm tên chung, hay tên riêng hẳn?

Phần lớn tiền làm thương hiệu mất đi không phải vì vẽ xấu, mà vì quyết sai thứ cần vẽ. Doanh nghiệp mua từng món rời trong khi bài toán là cả một hệ. Doanh nghiệp nói với mọi người trong khi cần chọn một điều để khách nhớ. Doanh nghiệp đặt tên sản phẩm mới khi chưa quyết các tên sẽ đứng cạnh nhau ra sao. Chương này bàn những quyết định ấy. Chương cũng chỉ cách kiểm một câu chiến lược có thật sự dẫn được việc thiết kế, hay chỉ để trang trí cho đề bài, tức bản mô tả việc cần làm gửi người thiết kế.

Đọc nhanh: câu tóm tắt, lúc hay gặp và việc Anh / Chị thử ngay. Đọc đủ mở thêm lập luận, khi nào không áp dụng và nguồn. Mỗi nguyên lý đứng trước các phép nghề đi theo nó, nên số điều không chạy liền nhau.

Có bằng chứngĐang kiểm chứng

4.01Nguyên lýĐang kiểm chứng

Có thể mua lẻ từng món theo tiền và tiến độ, nhưng mọi món phải theo một bộ quy tắc chung, quyết trước món đầu tiên.

Gặp khiKhi doanh nghiệp đặt làm logo năm nay, website năm sau, bao bì năm sau nữa, mỗi lần một bên khác nhau, hoặc khi doanh nghiệp xin báo giá và so giá theo từng món. Điểm chạm ở đây là mọi chỗ khách gặp thương hiệu: biển hiệu, bao bì, website, mẫu báo giá, đồng phục, tin nhắn.

Nên chọn thế nào

Được mua lẻ về tiền và về tiến độ, không được mua lẻ về quy tắc. Món nào làm lúc nào cũng được, miễn mọi món theo cùng một bộ quy tắc đã quyết trước món đầu tiên. Xem thêm 6.01

Đọc kỹ lập luận

Hai cái đúng phải cân

Mua lẻ thì chi theo dòng tiền, món nào cũng chọn được người giỏi nhất ở món ấy, và không phải cam kết một khoản lớn khi chưa chắc. Mua theo hệ thì các món cộng lại thành một hình ảnh khách nhận ra, thay vì năm phiên bản của cùng một doanh nghiệp.

Vì sao đúng

Khách chỉ nhận ra một thương hiệu khi gặp lại những thứ giống nhau nhiều lần. Bên làm một món rời phải tự đoán quy tắc từ chính món mình nhận. Họ chỉnh màu một chút cho hợp màn hình, đổi chữ sang kiểu đậm hơn cho bao bì, co khoảng trống quanh logo cho vừa biển. Từng quyết định đều hợp lý tại chỗ, nhưng cộng lại thì doanh nghiệp có nhiều bản của chính mình. Món làm đầu tiên, thường là logo, lại hay được vẽ cho đẹp trên bản trình duyệt. Người vẽ không biết logo ấy sẽ phải sống ở cỡ ảnh đại diện, trên vải thêu hay trên hộp đèn. Chi phí của mua lẻ không hiện trên báo giá nào. Nó hiện ở công sức tự ghép các món, thường do người không làm nghề ghép, và ở hoá đơn sửa cho các món khớp lại với nhau vài năm sau. Xem thêm 0.4

Khi nào không áp dụng

Doanh nghiệp mới đang thử thị trường, chưa biết mình sẽ có mặt ở những điểm chạm nào, thì làm một món tối thiểu là hợp lý. Điều kiện là ghi rõ đó là bản tạm và tính trước chi phí làm lại. Doanh nghiệp đã có bộ quy tắc vững và có người giữ chuẩn thì đặt làm từng món theo quy tắc ấy là cách vận hành đúng, không phải mua sai cách. Đã lỡ có món mà chưa có quy tắc thì quyết quy tắc ngay bây giờ, lấy món đang dùng làm điểm xuất phát. Các món sau theo quy tắc ấy. Xem thêm 6.06, 11.04

Cái giá phải trả

Doanh nghiệp phải dành thời gian và một phần tiền để quyết quy tắc trước khi có món đầu tiên để dùng. Mỗi món cũng mất tự do mang một phong cách riêng theo cảm hứng của người làm món ấy.

Nguồn

  • Jenni Romaniuk, Building Distinctive Brand Assets, Oxford University Press, 2018

Dự án đã chứng minhAION: một thương hiệu chung cho đội du thuyền sông Hàn · ConnectLog: hồ sơ gọi vốn cho chuỗi kho lạnh xanh · MASTER DOOR: thương hiệu cửa cuốn an toàn và hiện đại · MetaWork: nền tảng Web3 trông vững và đáng tin · MOG: ba vòng tròn cho một tập đoàn nhiều mảng

Dùng trong dịch vụChiến lược và định vị thương hiệu · Thiết kế hình ảnh chiến dịch

Đọc tiếpNăm dấu hiệu nhận diện của Anh / Chị đang vỡ trận

Tự thửXem thương hiệu trên ấn phẩm

Đứng trên 0.4Triển khai thành 4.06 10.02

4.06Phép nghềĐang kiểm chứng

Vẽ sơ đồ các điểm chạm và đường nối giữa chúng trước khi xin hay lập báo giá, để thấy món nào kéo theo món nào.

Gặp khiTrước khi doanh nghiệp đi xin báo giá, hoặc khi đang cầm nhiều báo giá rời và không biết so thế nào.

Anh / Chị thử ngay
  1. Liệt kê mọi chỗ khách gặp doanh nghiệp trong một năm, theo đường đi của khách. Chẳng hạn: nghe nói tới, tìm trên mạng, tới điểm bán, vào gian hàng trên sàn thương mại điện tử hay trang doanh nghiệp trên Zalo. Sau đó là nhận báo giá, mua, dùng, gọi hỏi hay bảo hành, giới thiệu cho người khác.
  2. Ghi ba ô cho mỗi điểm chạm: ai làm ra nó hằng ngày, bằng công cụ gì, khách thấy nó bao nhiêu lần một năm. Ước đại khái là đủ.
  3. Nối hai điểm chạm khi cái này mượn quy tắc của cái kia. Ví dụ: màu website mượn từ bao bì, mẫu báo giá mượn kiểu chữ từ hồ sơ năng lực, biển hiệu mượn cụm chữ cố định của logo.
  4. Tìm ô có nhiều đường nối nhất. Đó là chỗ phải quyết quy tắc trước.
  5. Soát lại các món định mua lẻ. Món nằm đúng ở ô ấy mà mua lẻ là mua sai đơn vị: mua một món trong khi thứ cần mua là cả hệ. Xem thêm 4.01

Đạt: mỗi hạng mục trong báo giá trỏ được về một ô trên sơ đồ, và sơ đồ chỉ ra được những ô chưa ai phụ trách.

Chưa đạt: báo giá có món không nằm trên sơ đồ, hoặc sơ đồ có điểm chạm khách gặp hằng ngày mà không hạng mục nào chạm tới.

Dự án áp dụngConnectLog: hồ sơ gọi vốn cho chuỗi kho lạnh xanh · MASTER DOOR: thương hiệu cửa cuốn an toàn và hiện đại

Đọc tiếpThiết kế trước khi có bản đồ là đặt cược ngược

Tự thửKhách gặp thương hiệu ở đâu

Đứng trên 4.01

4.02Nguyên lýĐang kiểm chứng

Định vị hẹp ở ý nghĩa, không hẹp ở người mua: chọn một điều để khách nhớ, rồi vẫn bán cho bất kỳ ai cần điều ấy.

Gặp khiKhi viết câu định vị, tức câu nói doanh nghiệp muốn được chọn vì điều gì, và khi chủ doanh nghiệp sợ nói hẹp sẽ mất khách.

Nên chọn thế nào

Hẹp ở ý nghĩa, không hẹp ở người được bán cho, cũng không hẹp ở dịp mua. Doanh nghiệp chọn một điều để khách nhớ và bỏ các điều khác khỏi lời nói, nhưng vẫn bán cho bất kỳ ai cần điều ấy. Cái dễ nhận ra giúp khách nhớ tới thương hiệu. Còn lời hứa giúp doanh nghiệp chọn những dịp mua đáng giành khách.

Đọc kỹ lập luận

Hai cái đúng phải cân

Nói rộng thì không đẩy ai đi, điều rất thật với doanh nghiệp nhỏ cần mọi đơn hàng. Nghiên cứu về tăng trưởng thương hiệu còn chỉ ra thương hiệu lớn lên chủ yếu nhờ có thêm nhiều người mua, kể cả người lâu lâu mới mua. Thương hiệu không lớn nhờ một nhóm khách trung thành hẹp. Nhóm nghiên cứu ấy còn nói thẳng hơn: người mua ít khi để ý thương hiệu này khác thương hiệu kia ở chỗ nào. Vì vậy, được nhận ra dễ dàng quan trọng hơn khác biệt về ý nghĩa. Tác giả Jenni Romaniuk còn đòi thương hiệu gắn với nhiều điểm vào của loại hàng, tức những lúc người ta bắt đầu nghĩ tới việc mua. Ngược lại, nói hẹp thì được nhớ vì một điều. Xem thêm 7.11

Vì sao đúng

Người mua để ý rất ít và quên rất nhanh, nên trong đầu họ mỗi thương hiệu chỉ giữ được vài ý gắn với nó. Câu "chất lượng, uy tín, giá tốt, tận tâm" thì cả ngành cùng nói, nên khách không gắn nó với riêng ai. Chiến lược có giá trị ở chỗ nó đòi đánh đổi. Một vị trí không bắt doanh nghiệp bỏ gì thì đối thủ chép được ngay mà không mất gì. Ở bàn vẽ, câu định vị không bỏ gì còn gây hại cụ thể. Nó không cho người thiết kế tiêu chí nào để loại một hướng, nên việc chọn hướng lại rơi về gu. Xem thêm 0.2, 4.08, 5.01

Khi nào không áp dụng

Ở ngành hàng thiết yếu, ít khác biệt về công dụng, người mua chọn chủ yếu theo cái quen mắt và cái dễ mua. Ở đó câu định vị vẫn cần, nhưng gánh ít việc hơn chuyện được nhận ra nhanh. Doanh nghiệp chưa biết khách thật của mình là ai thì chọn bỏ điều gì cũng chỉ là đoán. Khi ấy hỏi khách trước, chọn sau. Xem thêm 1.02, 2.02, 1.06

Cái giá phải trả

Doanh nghiệp mất một số khách thấy mình không thuộc điều được nói tới. Doanh nghiệp phải từ chối những cơ hội lệch định vị. Chủ doanh nghiệp phải sống với cảm giác đang bỏ tiền lại trên bàn.

Nguồn

  • Al Ries và Jack Trout, Positioning: The Battle for Your Mind, McGraw-Hill, 1981
  • Michael E. Porter, What Is Strategy?, Harvard Business Review, 1996
  • Byron Sharp, How Brands Grow, Oxford University Press, 2010
  • Jenni Romaniuk, Better Brand Health: Measures and Metrics for a How Brands Grow World, Oxford University Press, 2023

Dùng trong dịch vụChiến lược và định vị thương hiệu

Đọc tiếpMột điểm khác biệt hay nhiều lợi thế cùng lúc

Đứng trên 0.2Triển khai thành 4.04 4.05 4.08

4.04Phép nghềĐang kiểm chứng

Viết định vị thành một câu có vế "không phải", và vế ấy phải gạt đi một thứ doanh nghiệp đang tiếc.

Gặp khiKhi đã có bản định vị nháp, trước khi biến nó thành hướng thiết kế.

Anh / Chị thử ngay

Khuôn câu dưới đây phỏng theo câu định vị có vế so với đối thủ của Geoffrey Moore (1991) và câu "chỉ mình chúng tôi" của Marty Neumeier (2006). Phần Sinh Vũ thêm là các bước soi vế "không phải".

  1. Viết theo khuôn: [tên] dành cho [ai], để được nhớ vì [một điều], không phải [điều cố ý bỏ].
  2. Soi vế "không phải". Vế bỏ một thứ không ai muốn, như kém chất lượng hay lừa khách, là vế giả. Vế thật bỏ một thứ đối thủ đang làm tốt, hoặc một nhóm khách doanh nghiệp đang có ít nhiều.
  3. Đưa câu cho người quyết và hỏi: nếu mai có một đơn lớn nằm đúng trong vế "không phải", doanh nghiệp có nhận không? Xem thêm 3.02
  4. Xét câu trả lời. Nếu người quyết nhận ngay không cần nghĩ, câu chưa được tin. Hãy sửa câu, hoặc ghi rõ ngoại lệ được phép.
  5. Đưa câu cho một người bán hàng tuyến đầu. Hỏi vì câu ấy, họ sẽ từ chối hay chuyển đi loại khách nào, việc nào.

Đạt: họ nêu được một loại khách hay một việc như thế.

Chưa đạt: không ai nêu được, tức là câu không đổi được việc làm nào của ai.

Nguồn

Nguồn

  • Geoffrey A. Moore, Crossing the Chasm, HarperBusiness, 1991
  • Marty Neumeier, Zag: The Number One Strategy of High-Performance Brands, New Riders, 2006

Đứng trên 4.02

4.08Phép nghềĐang kiểm chứng

Mỗi tính từ trong câu chiến lược phải cấm được ít nhất một lựa chọn thiết kế, không cấm được gì thì chỉ là chữ trang trí.

Gặp khiKhi chuyển câu định vị, tính cách thương hiệu hay khung thông điệp thành đề bài cho người thiết kế.

Anh / Chị thử ngay
  1. Gạch chân từng tính từ trong câu chiến lược, như cao cấp, gần gũi, trẻ trung, đáng tin.
  2. Viết với mỗi chữ ít nhất một điều người thiết kế không được làm vì chữ ấy. Điều cấm phải đủ cụ thể để một người thứ ba kiểm được. Ví dụ giả định: "gần gũi" cấm xưng "quý khách" trên mạng xã hội. "Cao cấp" cấm in nhãn khuyến mãi lên mặt trước bao bì.
  3. Bỏ khỏi câu chữ nào không viết được điều cấm, hoặc thay bằng chữ cụ thể hơn.
  4. Gộp các điều cấm thành một trang và giao cho người thiết kế cùng đề bài.
  5. Mời người quyết xác nhận trang ấy cùng lúc với các tiêu chí chọn. Xem thêm 3.05

Đạt: đặt hai hướng thiết kế khác nhau cạnh nhau, một người không làm nghề cầm trang điều cấm chỉ ra được hướng nào vi phạm.

Chưa đạt: cả hai hướng đều được khen là hợp chiến lược.

Nguồn

Nguồn

  • Richard Rumelt, Good Strategy Bad Strategy: The Difference and Why It Matters, Crown Business, 2011

Đọc tiếpVì sao tính cách thương hiệu phải chốt trước màu và chữ

Đứng trên 4.02

4.05Phép nghềĐang kiểm chứng

Thay tên mình bằng tên đối thủ trong câu định vị: câu vẫn đúng thì nó mới mô tả ngành hàng, chưa định vị được doanh nghiệp.

Gặp khiKhi soát câu định vị, khẩu hiệu, đoạn giới thiệu trên website và hồ sơ năng lực.

Anh / Chị thử ngay

Phép thay tên là cách quen của nghề, không của riêng ai. Sinh Vũ thêm bước gạch chữ chung ở cuối và một lưu ý. Câu đúng cho cả ngành vẫn có thể là câu cần nói, vì nó báo cho khách biết doanh nghiệp thuộc loại hàng nào. Đó là một điều bắt buộc phải có của ngành. Nhưng đừng gọi nó là định vị, và đừng để nó đứng ở chỗ đáng giá nhất của trang. Xem thêm 2.01

  1. Chọn ba đối thủ mà khách hay đặt lên bàn cân. Danh sách này chỉ dùng nội bộ, không đưa ra ngoài.
  2. Thay tên mình bằng tên từng đối thủ trong câu định vị, khẩu hiệu và đoạn giới thiệu.
  3. Hỏi một người trong ngành: câu này có sai với đối thủ ấy không?
  4. Gạch các chữ làm câu đúng với mọi người, như chất lượng, uy tín, tận tâm, hàng đầu, rồi đọc phần còn lại.

Đạt: còn ít nhất một vế mà với đối thủ là sai, hoặc đối thủ không dám nhận.

Chưa đạt: câu đúng cho cả ba.

Đứng trên 4.02

4.03Nguyên lýĐang kiểm chứng

Quyết cách các tên trong doanh nghiệp đứng cạnh nhau trước khi có sản phẩm thứ hai, vì tới sản phẩm thứ mười thì việc ấy chỉ còn là dọn dẹp.

Gặp khiKhi doanh nghiệp sắp ra dòng sản phẩm mới, mở chi nhánh, mở mảng kinh doanh thứ hai. Kiến trúc thương hiệu là cách các tên và dấu hiệu trong một doanh nghiệp đứng với nhau. Tên mẹ là tên chung của doanh nghiệp. Có ba kiểu chính: một tên mẹ cho tất cả, tên con đi kèm tên mẹ để mượn lòng tin, hay mỗi sản phẩm một tên riêng hẳn.

Nên chọn thế nào

Quyết quy tắc trước sản phẩm thứ hai, và để sẵn trong quy tắc ấy một ngoại lệ ghi rõ điều kiện áp dụng. Chẳng hạn, sản phẩm bán cho nhóm khách khác hẳn, hoặc mang rủi ro có thể kéo tên mẹ xuống.

Đọc kỹ lập luận

Hai cái đúng phải cân

Quyết cho từng sản phẩm khi nó ra đời thì linh hoạt, theo đúng thị trường của sản phẩm ấy. Doanh nghiệp không bị trói tay bởi một quy tắc đặt ra khi chưa biết gì. Có quy tắc từ sớm thì mỗi tên mới góp thêm vào cùng một tài sản, thay vì chia nhỏ nó ra.

Vì sao đúng

Sản phẩm ra đời khi chưa có quy tắc sẽ được đặt tên theo hoàn cảnh: theo người phụ trách, theo kênh bán, theo đợt khuyến mãi. Tên đã in lên bao bì, treo lên biển, nộp đơn đăng ký thì đổi vừa tốn tiền vừa làm khách mất dấu. Vì vậy mỗi sản phẩm thêm vào làm việc sắp xếp lại đắt hơn sản phẩm trước. Aaker và Joachimsthaler xếp các cách đặt tên trên một dải, từ chung hẳn một tên mẹ tới tách hẳn tên riêng, và mỗi vị trí có lợi và giá riêng. Dùng chung tên mẹ thì sản phẩm mới mượn được lòng tin có sẵn, nhưng một sản phẩm hỏng kéo cả họ xuống. Tên riêng thì tách được rủi ro, nhưng mỗi tên phải tự làm cho khách biết tới từ đầu. Quyết ở sản phẩm thứ hai là rẻ nhất, vì lúc ấy chỉ có hai thứ phải xếp và chưa thứ nào kịp in vào trí nhớ khách.

Khi nào không áp dụng

Doanh nghiệp chỉ bán một sản phẩm và chưa có kế hoạch mở rộng thì chưa cần cả một kiến trúc. Một dòng ghi chú là đủ: khi có sản phẩm thứ hai thì quyết theo ba câu hỏi ở điều kế tiếp. Khi mua lại một thương hiệu đã có tên tuổi, quy tắc phải tính tới tài sản ấy, không ép nó vào khung cũ. Ở doanh nghiệp gia đình, tên mẹ còn gánh danh dự gia đình, nên chuyện kéo tên mẹ xuống nặng hơn một phép tính. Việc đăng ký nhãn hiệu cho tên mới cần hỏi người có chuyên môn về sở hữu trí tuệ. Xem thêm 4.07, 3.03

Cái giá phải trả

Doanh nghiệp mất tự do đặt tên theo cảm hứng cho từng sản phẩm. Có lúc sản phẩm mới phải mang một tên kém hấp dẫn hơn vì quy tắc. Doanh nghiệp tốn một buổi quyết ở thời điểm chưa ai thấy cần.

Nguồn

  • David A. Aaker và Erich Joachimsthaler, The Brand Relationship Spectrum: The Key to the Brand Architecture Challenge, California Management Review, 2000

Dùng trong dịch vụChiến lược và định vị thương hiệu

Đọc tiếpRa dòng sản phẩm mới: bài toán kiến trúc thương hiệu bị bỏ qua

Đứng trên 0.6Triển khai thành 4.07

4.07Phép nghềĐang kiểm chứng

Chọn tên chung, tên riêng đi kèm tên chung, hay tên riêng hẳn cho sản phẩm mới bằng ba câu hỏi: lòng tin, rủi ro, sức gây dựng tên mới.

Gặp khiKhi đặt tên cho sản phẩm, dòng hàng, chi nhánh hay mảng kinh doanh mới.

Anh / Chị thử ngay

Ba câu dưới đây phỏng theo bộ câu hỏi chọn kiến trúc thương hiệu của Aaker và Joachimsthaler (Brand Leadership, 2000). Bộ ấy hỏi tên mẹ có góp gì cho sản phẩm mới, có cần một tên riêng không, và doanh nghiệp có nuôi nổi một tên mới không. Phần Sinh Vũ thêm là cách đọc kết quả ở doanh nghiệp vừa và nhỏ.

  1. Hỏi về lòng tin: tên mẹ có giúp sản phẩm này bán được không, tức cùng nhóm khách và cùng lời hứa chất lượng? Nếu tên mẹ làm khách mới nghi ngờ thì nghiêng về tên riêng. Chẳng hạn, tên mẹ gắn với hàng bình dân mà sản phẩm mới định giá cao.
  2. Hỏi về rủi ro: nếu sản phẩm này hỏng hoặc gây tai tiếng, tên mẹ có chịu nổi không? Rủi ro cao thì giữ khoảng cách.
  3. Hỏi về sức gây dựng: doanh nghiệp có đủ tiền và người để khách biết tới một tên mới từ đầu, ở mọi điểm chạm, trong nhiều năm không? Không đủ thì dùng tên mẹ, hoặc tên con đi kèm tên mẹ.
  4. Đọc kết quả. Ba câu cùng chỉ một hướng là quyết xong. Hai câu ngược nhau thì ở doanh nghiệp vừa và nhỏ, câu thứ ba thường thắng, vì nguồn lực có hạn. Xem thêm 0.5
  5. Ghi lời giải và lý do vào một trang quy tắc đặt tên.
  6. Tra cứu và hỏi người có chuyên môn trước khi in, nếu định đăng ký nhãn hiệu cho tên mới.

Đạt: người thứ ba đọc trang ấy đặt được tên cho sản phẩm kế tiếp mà không phải hỏi chủ.

Chưa đạt: mỗi sản phẩm mới lại họp lại từ đầu.

Nguồn

Nguồn

  • David A. Aaker và Erich Joachimsthaler, Brand Leadership, Free Press, 2000

Đọc tiếpThuế thương hiệu phụ: mỗi cái tên mới Anh / Chị thêm vào tốn bao nhiêu

Đứng trên 4.03

Đem một điều về soi doanh nghiệp mình

Anh / Chị thấy doanh nghiệp mình đang đứng ở điều nào trong chương này, kể cho Sinh Vũ nghe. Sinh Vũ đọc cùng và nói thẳng chỗ nên làm trước.

Kể bài toán của mình
Về mục lục học thuyết