Tiếng Việt viết bằng chữ Latin, nhưng không phải chữ Latin thêm dấu cho có. Phần lớn chữ trong một đoạn văn tiếng Việt mang dấu, có chữ mang hai dấu chồng nhau. Vì vậy một kiểu chữ cho thương hiệu Việt phải được chấm ở phần dấu nhiều hơn ở phần chữ. Nhiều bộ nhận diện hỏng ở đây mà không ai gọi được tên lỗi.
Đọc nhanh: câu tóm tắt, lúc hay gặp và việc Anh / Chị thử ngay. Đọc đủ mở thêm lập luận, khi nào không áp dụng và nguồn. Mỗi nguyên lý đứng trước các phép nghề đi theo nó, nên số điều không chạy liền nhau.
Chữ Việt hầu hết có dấu, nên dấu xấu thì cả trang chữ trông xấu; kiểu chữ đẹp mà dấu hỏng là kiểu chữ hỏng.
Gặp khiKhi chọn kiểu chữ cho thương hiệu, nhất là khi chọn từ thư viện chữ quốc tế đã ghi có hỗ trợ tiếng Việt.
Nên chọn thế nào
Chữ đẹp mà dấu hỏng thì trên văn bản tiếng Việt nó không còn đẹp, vì người đọc nhìn thấy dấu ở phần lớn chữ.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Một bên là kiểu chữ đẹp, có cá tính, được giới thiết kế thế giới tin dùng. Một bên là phần dấu được vẽ cẩn thận cho tiếng Việt.
Vì sao đúng
Nhìn từ xa, một đoạn văn tạo ra một độ đậm nhạt chung do mọi nét chữ góp lại. Ở tiếng Anh, dấu gần như không có, nên lỗi dấu bị khuất đi. Ở tiếng Việt, dấu xuất hiện dày đến mức nó quyết định độ đậm nhạt ấy. Dấu vẽ mà không có người đọc tiếng Việt soát lại thường quá nhỏ, quá mảnh, đặt lệch, hoặc va nhau khi chồng hai tầng. Mắt người Việt thấy ngay, dù không nói ra được vì sao.
Khi nào không áp dụng
Thương hiệu chỉ dùng tên không dấu và sống chủ yếu ở thị trường nước ngoài thì phần dấu ít quyết định hơn. Chữ thương hiệu đã cố ý bỏ dấu thì không được miễn. Nguyên lý này vẫn áp cho mọi chữ có dấu còn lại của hệ, từ tiêu đề, khẩu hiệu tới văn bản. Xem thêm 9.05
Cái giá phải trả
Doanh nghiệp phải loại bỏ nhiều kiểu chữ đẹp, hoặc phải trả thêm để vẽ lại dấu theo một giấy phép cho phép sửa. Xem thêm 9.03
Khoảng cách dòng và cụm chữ cố định của logo phải đo theo chữ mang dấu chồng cao nhất và dấu dưới thấp nhất, không theo chữ Latin không dấu.
Gặp khiKhi đặt khoảng cách giữa hai dòng chữ, và khi dựng cụm chữ cố định của logo.
Nên chọn thế nào
Đo bằng trường hợp xấu nhất có thể xảy ra trong nội dung thật, rồi mới siết lại.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Tiêu đề xếp dòng chặt thì sắc và mạnh. Chữ hoa có dấu chồng như Ẩ, Ỗ, Ữ thì cần chỗ phía trên.
Vì sao đúng
Khung chữ Latin được tính từ chiều cao chữ hoa. Dấu tiếng Việt cộng thêm một đến hai tầng phía trên chiều cao ấy, nhất là dấu thanh đặt trên dấu mũ (â, ê, ô) hay dấu trăng (ă). Dấu nặng dưới chữ hoa thì lấn xuống khoảng giữa hai dòng. Khoảng dòng tính theo chữ Latin sẽ để dấu của dòng dưới chạm hoặc đè lên chân chữ dòng trên. Ngoài đời, đó là dòng tên in sát mép trên của thùng hàng hay hộp đèn: chữ Ổ, Ẫ bị xén dấu và đọc ra chữ khác. Trên website, khung chứa chữ cắt phần tràn sẽ xén mất dấu mà không báo lỗi. Hệ chữ hiếm khi hỏng ở ngày bàn giao. Nó hỏng ở ngày doanh nghiệp đặt tên sản phẩm thứ mười có chữ Ặ hay Ữ.
Khi nào không áp dụng
Cụm chữ cố định của logo và khẩu hiệu dựng sẵn, đã duyệt từng chữ, được miễn phép đo khoảng dòng. Nhưng chúng không được miễn bước thử chỗ đứng cho tên sản phẩm con. Tiêu đề chữ thường cũng không được miễn. Chữ thường mang dấu chồng như ẫ, ổ có thể cao bằng hoặc cao hơn chữ hoa không dấu. Xem thêm 9.06
Cái giá phải trả
Tiêu đề trông thoáng hơn bản mẫu quốc tế. Doanh nghiệp phải chấp nhận điều ấy, hoặc vẽ lại dấu thấp hơn cho riêng cỡ lớn.
Thử một kiểu chữ bằng chữ Việt có dấu chồng và dấu dưới, không bằng câu mẫu tiếng Anh.
Gặp khiVòng chọn chữ đầu tiên, và lúc đặt khoảng dòng hay dựng cụm chữ cố định của logo.
Anh / Chị thử ngay
Phép này soi năm nhóm việc qua mười lăm bước: dấu, khoảng dòng, máy Windows, logo và vật liệu thật.
Gõ đúng bộ chữ: ẤN ĐỘ · ỔN ĐỊNH · KỶ NIỆM · NHỮNG · THẲNG · LẶNG · BẬT · TRƯỜNG · NGƯỠNG · Nghiêng ngửa, Ngưỡng cửa, Lượm lặt, Tưởng tượng, ẵm bồng.
Soi dấu: dấu thanh có va dấu mũ hay dấu trăng không? Móc của Ư, Ơ hoa có đâm vào dấu của chữ bên cạnh không? Dấu nặng dưới ư, ơ có thẳng theo thân chữ không?
Xem dấu hỏi và dấu ngã ở cỡ nhỏ nhất trên màn hình có còn phân biệt được không.
Gõ lại câu bằng Unikey đặt bảng mã Unicode tổ hợp, tức kiểu lưu dấu rời khỏi chữ. Xem thêm 9.09
Mở câu ấy ở cỡ 12 đến 14px trên một máy Windows thật. Dấu rời khỏi chữ là kiểu chữ chưa được làm sẵn vị trí đặt dấu. Dấu dính vào chữ hay mất nét là chữ chưa ổn trên màn hình.
Đặt hai dòng chồng nhau ở cỡ dùng thật, dòng trên có g, p, y, dòng dưới có Ẫ, Ỗ. Giữa đỉnh dấu và chân chữ phải còn khe trắng. Xem thêm 9.02
Gõ dãy Ẫ Ằ Ỗ Ữ, tách rời từng chữ, ở cỡ lớn trong Word trên Windows.
Đổi chữ hoặc sửa tệp chữ nếu dấu bị cắt đầu. Lỗi ấy là do tệp chữ khai chiều cao thấp hơn dấu cao nhất, nên chỉnh khoảng dòng không cứu được.
Gõ cùng dãy ấy trên trình duyệt. Dấu bị cắt ở đây thường do khung chứa chữ, nên sửa ở khung. (10) Gõ tên thương hiệu và ba tên sản phẩm con giả định bằng đúng cụm chữ cố định của logo. Ba tên ấy có cả chữ mang dấu trên lẫn dấu dưới, như Ặ, Ậ. (11) Tìm dấu nào không có chỗ đứng. Đó là chỗ hệ sẽ hỏng khi doanh nghiệp lớn lên. (12) Đặt ba tên ấy cạnh cụm chữ, nếu cụm chữ cố ý không dấu. Chữ có dấu đi kèm phải có chỗ mà không phá cụm chữ. (13) In dòng chữ nhỏ nhất trên chính giấy hoặc decal sẽ dùng, in cả bản chữ trắng trên nền màu nếu bao bì có. (14) Đòi bản in thử trên đúng giấy nếu in offset. Với máy in nhiệt thì in trên đúng máy, ở đúng độ phân giải sẽ chạy. (15) Đưa bản in cho một người chưa đọc nội dung đọc to. Xem thêm 9.04
Đạt: không dấu nào va nhau, chạm dòng hay bị cắt, ba tên con có chỗ đứng trong cụm chữ, và người đọc to đọc đúng mọi dấu.
Chưa đạt: một dấu chạm dòng trên, bị xén ở Word hay trình duyệt, hoặc người đọc to đọc sai dù chỉ một dấu.
Chỉ chọn kiểu chữ doanh nghiệp có quyền dùng ở mọi điểm chạm, vì dùng chữ không có quyền thì sớm muộn cũng bị đòi, phải trả tiền hoặc đổi chữ.
Gặp khiKhi chọn chữ thương hiệu, nhất là khi dùng bản chữ đã Việt hoá sẵn đang lưu hành trên mạng. Điểm chạm ở đây là mọi chỗ khách gặp thương hiệu: in ấn, biển hiệu, website, ứng dụng, video, giấy tờ.
Nên chọn thế nào
Một kiểu chữ doanh nghiệp không có quyền dùng thì sớm muộn cũng bị đòi quyền, dù dấu đẹp tới đâu.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Bản Việt hoá có sẵn thì nhanh, rẻ, dấu thường đã ổn. Quyền dùng thì đòi giấy phép cho in ấn, website, ứng dụng, video.
Vì sao đúng
Giấy phép kiểu chữ thường chia theo cách dùng: trên máy tính, trên web, trong ứng dụng, nhúng vào tệp. Nhiều giấy phép cấm sửa chữ gốc, mà Việt hoá là sửa. Thương hiệu càng lớn, càng hiện ở nhiều nơi thì rủi ro bị đòi quyền càng lớn. Đổi chữ khi đã dùng nhiều năm thì khách mất một phần khả năng nhận ra thương hiệu. Không ít bản Việt hoá lưu hành trên mạng dựng từ chữ gốc chỉ cho dùng cá nhân. Hợp lệ hay không là do giấy phép của chữ gốc quyết, không do người Việt hoá. Logo đã chuyển chữ thành nét vẽ thì không còn cần tệp chữ để hiện. Nhưng quyền dùng hình chữ ấy vẫn do giấy phép quyết. Nhiều giấy phép cho dùng trong logo, một số đòi giấy phép riêng hoặc cấm đăng ký nhãn hiệu có chứa chữ. Logo định đăng ký nhãn hiệu thì đọc đúng điều khoản ấy trước khi chốt.
Khi nào không áp dụng
Kiểu chữ theo giấy phép mở thì được sửa và dùng thương mại, như SIL Open Font License. Điều kiện là bản đã sửa phải đổi tên, nếu kiểu chữ gốc có khai tên dành riêng.
Cái giá phải trả
Doanh nghiệp phải trả tiền giấy phép, hoặc thu hẹp lựa chọn về các kiểu chữ có giấy phép rõ.
Chữ Việt của thương hiệu hỏng ở dấu trước tiên, nên hãy duyệt chữ ở nơi chữ bị in hoặc hiển thị kém nhất, không chỉ trên màn hình người thiết kế.
Gặp khiKhi duyệt chữ cho bộ nhận diện sẽ đi vào in ấn, biển hiệu, thêu, khắc, máy in nhiệt, ảnh đại diện cỡ nhỏ, hay ảnh bị nén khi gửi qua ứng dụng nhắn tin. Chữ cũng đi qua máy ở ô tìm kiếm, kho dữ liệu, tên tệp.
Nên chọn thế nào
Thân chữ giữ một hình. Dấu được phép có bản riêng cho cỡ nhỏ và vật liệu thô, miễn người đọc vẫn đọc đúng từng dấu và người nhìn lướt không thấy hai kiểu chữ. Quy tắc duyệt ở chỗ xấu nhất đã có ở hai điều khác. Nguyên lý này chỉ nói phần riêng của chữ Việt: thứ hỏng trước là dấu, và dấu hỏng thì chữ đọc ra chữ khác chứ không chỉ xấu đi. Xem thêm 10.03, 8.01
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Một bên là giữ một hình chữ duy nhất ở mọi cỡ và mọi vật liệu: nhất quán, dễ quản, khách gặp ở đâu cũng là cùng một chữ. Một bên là cho dấu được đổi theo nơi nó xuất hiện: to hơn, đậm hơn, khe rộng hơn ở cỡ nhỏ và trên vật liệu thô. Lý do: dấu là nét nhỏ nhất và mất trước thân chữ. Xem thêm 12.01
Vì sao đúng
Dấu là những nét nhỏ nhất của chữ Việt. Vì vậy chúng mất trước tiên khi chữ ở cỡ nhỏ, khi mực loe trên giấy không tráng phủ, khi chỉ thêu không đủ mũi, hay khi máy in nhiệt in độ phân giải thấp. Dấu nặng thường mất đầu tiên. Dấu hỏi và dấu ngã thì loe thành một vệt rồi lẫn vào nhau. Có những chỗ hỏng mắt không thấy được. Chữ trông đúng trên màn hình mà máy đọc ra một chuỗi khác, nên ô tìm kiếm không ra, đường dẫn không khớp. Xem thêm 9.09
Khi nào không áp dụng
Thương hiệu chỉ sống trên màn hình độ phân giải cao, ở cỡ chữ lớn, thì được miễn phần vật liệu. Phần chữ đi qua máy thì không được miễn.
Cái giá phải trả
Đôi khi doanh nghiệp phải có bản chữ riêng cho cỡ nhỏ và vật liệu thô.
Trên chữ nổi và biển cắt, dấu là một mảnh rời, nên phải được thiết kế như một mảnh rời.
Gặp khiKhi làm biển hiệu chữ nổi, chữ cắt mica, chữ đèn, chữ khắc trên tường.
Anh / Chị thử ngay
Bản vẽ thi công không ghi cách bám của dấu là bản vẽ chưa xong.
Ghi trên bản vẽ thi công cách bám của mỗi dấu: chân, keo hay khung.
Ghi khoảng cách từ dấu tới chữ, đủ để đọc ở khoảng nhìn thật.
Đo bề rộng nét dấu của chữ đèn so với lòng hộp nhỏ nhất xưởng làm được, tức phần rỗng trong chữ để đặt đèn, ứng với loại đèn xưởng dùng (mô-đun hay LED dây).
Quyết cách xử lý dấu không chứa nổi đèn: phóng to dấu, để dấu không đèn, hay làm một mảnh nối dấu vào chữ. Nên quyết ngay trên bản vẽ, không để xưởng tự xử lúc gia công.
Đạt: mọi dấu trên bản vẽ có cách bám và khoảng cách ghi rõ, dấu chữ đèn đã có cách xử lý chọn sẵn.
Chưa đạt: xưởng phải hỏi lại cách gắn dấu, hoặc tự quyết lúc gia công.
Thống nhất cách lưu chữ có dấu ngay ở chỗ chữ đi vào hệ thống, trước khi chữ vào website, kho dữ liệu hay tệp in.
Gặp khiKhi chữ đến từ nhiều nguồn: nội dung chép lại, tên tệp từ máy Mac, bộ gõ đặt dấu rời, dữ liệu nhập hàng loạt, tệp Excel, ảnh tải lên. Chữ ế có thể được lưu thành một ký tự trọn, hoặc thành chữ e mũ cộng một dấu sắc rời. Trên màn hình hai cách lưu trông giống hệt. Máy so thì thấy hai chuỗi khác nhau, như hai tờ tiền trông y nhau mà khác số sê-ri. Vì vậy ô tìm kiếm không ra một tên có thật trên trang, và tên tệp ảnh từ máy Mac không khớp đường dẫn trên máy chủ.
Anh / Chị thử ngay
Cách lưu thống nhất mà ngành phần mềm dùng có tên kỹ thuật là NFC, tức mỗi chữ có dấu lưu thành một ký tự trọn. Văn bản cũ ở bảng mã TCVN3 hay VNI phải chuyển sang Unicode trước, vì chuẩn hoá NFC không sửa được chúng.
Chép chữ "Việt" từ website, từ kho dữ liệu và từ bộ gõ của nhân viên nhập liệu vào một ô đếm ký tự. Ra 4 là đã lưu thống nhất, ra 5 hoặc 6 là đang có dấu rời.
Tìm một tên có dấu trên website bằng ô tìm kiếm.
Chuẩn hoá về NFC ở đúng chỗ chữ đi vào hệ thống, nếu thấy lẫn hai cách lưu.
Đạt: cả ba nguồn đều ra 4, và ô tìm kiếm ra đúng tên.
Chưa đạt: một nguồn ra 5 hoặc 6, ô tìm kiếm không ra dù tên có trên trang, hoặc dấu hiện lệch so với chữ quanh nó.
Nguồn
Nguồn
Unicode Standard Annex #15, Unicode Normalization Forms
W3C, Character Model for the World Wide Web: String Matching
Bỏ dấu khỏi tên là bỏ đi một phần nghĩa, nên chỉ bỏ khi có lý do ghi thành văn bản, sau khi hỏi ai là người đọc chính trong năm năm tới.
Gặp khiKhi đặt tên hoặc vẽ chữ tên cho doanh nghiệp có tên tiếng Việt.
Nên chọn thế nào
Quyết bằng câu hỏi ai là người đọc chính trong năm năm tới, không bằng câu hỏi bản nào trông sạch hơn.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Bỏ dấu thì dễ đăng ký tên miền, dễ đọc với người nước ngoài, hình chữ gọn. Giữ dấu thì giữ nghĩa, giữ giọng, giữ gốc.
Vì sao đúng
Bỏ dấu không chỉ bỏ nét, nó đổi nghĩa và đổi cách đọc. Một tên không dấu có thể ứng với nhiều tên có dấu. Khi dấu bị bỏ chỉ vì hình thức, doanh nghiệp đã bỏ đi một phần nghĩa mà không ai cân xem đổi lại được gì.
Khi nào không áp dụng
Tên vay mượn hoặc tên tự đặt vốn không có dấu. Tên khách đã đặt và đăng ký trước khi studio nhận việc thì studio không mở lại tên. Nếu bản không dấu chưa được quy định, studio vẫn soát theo điều kế tiếp, nói rủi ro bằng văn bản, và quyền quyết là của khách. Chữ thương hiệu có thể đứng không dấu khi đủ ba điều kiện. Một là bản không dấu ấy đã được quy định cho tên. Hai là lý do bỏ dấu được ghi trong cẩm nang. Ba là ở mọi chỗ người ta đọc chữ, tên vẫn viết đủ dấu. Thiếu một điều kiện là bỏ dấu vì hình thức. Xem thêm 9.10
Cái giá phải trả
Giữ dấu thì doanh nghiệp phải sống với hai bản tên: bản có dấu cho người đọc, và bản không dấu cho tên miền, tài khoản, hệ thống không gõ được dấu. Tên có vần oa, oe, uy còn mang thêm một lựa chọn là kiểu đặt dấu, như hoà hay hòa. Lựa chọn ấy cũng phải chốt một lần. Xem thêm 9.10
Nguồn
Nguyễn Đình Hoà, Vietnamese: Tiếng Việt không son phấn (John Benjamins, 1997), phần thanh điệu và chữ viết
Quy định một lần bản không dấu và kiểu đặt dấu của tên, rồi ghi vào cẩm nang thương hiệu, ngay lúc đặt tên, hoặc từ hôm nay nếu chưa làm.
Gặp khiKhi tên có dấu cần dùng ở tên miền, tài khoản mạng xã hội, tài khoản ngân hàng, hệ thống không gõ được dấu. Và khi tên hoặc lời thương hiệu có vần như oa, oe, uy (hoà hay hòa, thuỷ hay thủy).
Anh / Chị thử ngay
Hai cách đặt dấu cùng tồn tại thì ô tìm kiếm coi đó là hai tên. Hoá đơn và giấy tờ viết lệch với tên đã đăng ký có thể phải làm lại.
Ghi dòng thứ nhất vào cẩm nang, cho bản không dấu: đ viết thành d hay dd, viết hoa thế nào, nối liền, gạch nối hay gạch dưới, kèm lý do.
Ghi dòng thứ hai, cho kiểu đặt dấu thanh như hoà hay hòa. Tên đăng ký có vần oa, oe, uy thì theo đúng tên trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Cài sẵn kiểu đặt dấu ấy trong bộ gõ của những người hay gõ tên: bán hàng, kế toán, truyền thông.
Liệt kê mọi nơi tên đang hiện và so với hai dòng ấy. Nơi nào viết khác mà không có lý do ghi trong cẩm nang là nơi thương hiệu đang mang thêm một tên.
Viết bản không dấu ra, đưa ba người lạ tự đọc và đoán tên gốc. Nếu phần lớn đọc ra trước tiên một từ có nghĩa xấu thì bản không dấu cần sửa.
Đạt: cẩm nang có đủ hai dòng, mọi nơi tên hiện khớp hai dòng ấy hoặc có lý do ghi sẵn, và người lạ đọc ra tên gốc.
Chưa đạt: một nơi viết khác mà không có lý do, hai kiểu đặt dấu cùng tồn tại, hoặc bản không dấu bị đọc thành một từ có nghĩa xấu.