Học thuyết nghề · Chương 9

Chữ Việt

Phần III. Làm đúng. 10 điều: 5 nguyên lý và 5 phép nghề, mỗi điều có câu chốt, lúc gặp và việc mang về.

10 điều trong chương
  1. 9.01Ở tiếng Việt, phần lớn chữ mang dấu nên dấu quyết định độ xám của cả trang
  2. 9.07Dấu trong logo chữ vẽ tay phải được vẽ cùng nét với chữ
  3. 9.02Khoảng dòng và khoá chữ của một thương hiệu Việt phải được đo theo chữ mang dấu chồng cao nhất…
  4. 9.06Thử một kiểu chữ bằng chữ Việt có dấu chồng và dấu dưới
  5. 9.03Một kiểu chữ chỉ ở lại lâu trong thương hiệu khi doanh nghiệp có quyền dùng nó ở mọi điểm chạm
  6. 9.04Chữ Việt của thương hiệu hỏng ở dấu trước tiên
  7. 9.08Trên chữ nổi và biển cắt, dấu là một mảnh rời và phải được thiết kế như một mảnh rời
  8. 9.09Chuẩn hoá mọi chữ Việt về dạng dựng sẵn (NFC) ở chỗ chữ đi vào hệ thống
  9. 9.05Bỏ dấu khỏi tên là trao đi một phần nghĩa
  10. 9.10Bản không dấu và kiểu đặt dấu của tên phải được quy định một lần

Tiếng Việt viết bằng chữ Latin, nhưng không phải chữ Latin thêm dấu. Phần lớn chữ trong một đoạn văn tiếng Việt mang dấu, có chữ mang hai dấu chồng nhau. Một kiểu chữ thương hiệu vì thế được chấm ở phần dấu nhiều hơn ở phần chữ, và nhiều bộ nhận diện hỏng ở đây mà không ai gọi tên được.

Đọc nhanh: câu chốt, lúc gặp và việc mang về. Đọc đủ mở thêm lập luận, ranh giới và nguồn. Mỗi nguyên lý đứng trước các phép nghề của nó, nên số điều không chạy liền.

Có bằng chứngĐang kiểm chứng

9.01Nguyên lýĐang kiểm chứng

Ở tiếng Việt, phần lớn chữ mang dấu nên dấu quyết định độ xám của cả trang; một kiểu chữ đẹp mà dấu hỏng là một kiểu chữ hỏng.

Gặp khiChọn kiểu chữ cho thương hiệu, nhất là khi chọn từ thư viện chữ quốc tế đã ghi hỗ trợ tiếng Việt.

Phân xử

Chữ đẹp mà dấu hỏng thì trên văn bản tiếng Việt nó không còn đẹp, vì người đọc nhìn dấu ở phần lớn chữ.

Lập luận đầy đủ

Hai điều đều tốt kéo ngược nhau

Một bên là kiểu chữ đẹp, có cá tính, được giới thiết kế thế giới tin dùng. Một bên là phần dấu được vẽ cẩn thận cho tiếng Việt.

Vì sao đúng

Độ xám của một đoạn văn là mật độ đậm nhạt chung do mọi nét tạo ra. Ở tiếng Anh, dấu gần như không có nên lỗi dấu khuất đi; ở tiếng Việt, dấu xuất hiện dày đến mức nó quyết định độ xám ấy. Dấu vẽ mà không có người đọc tiếng Việt soát lại thường quá nhỏ, quá mảnh, đặt lệch tâm, hoặc va nhau khi chồng hai tầng, và mắt người Việt thấy ngay dù không nói ra được vì sao.

Khi nào điều này sai

Thương hiệu chỉ dùng tên không dấu và sống chủ yếu ở thị trường nước ngoài thì phần dấu ít quyết định hơn. Chữ thương hiệu đã chủ đích bỏ dấu (9.05) không được miễn: điều này áp cho mọi chữ có dấu còn lại của hệ, từ tiêu đề, khẩu hiệu tới văn bản.

Theo nó thì mất gì

Loại bỏ nhiều kiểu chữ đẹp, hoặc phải trả thêm để vẽ lại dấu theo một giấy phép cho phép sửa (9.03).

Nguồn

  • Donny Trương, Vietnamese Typography, chương Design Challenges và Diacritical Details (vietnamesetypography.com)

Dùng trong dịch vụThiết kế bộ nhận diện thương hiệu

Đọc tiếpChọn kiểu chữ thương hiệu: khớp tính cách, đọc được mọi cỡ, đủ dấu Việt

Đứng trên 0.2 0.5Triển khai thành 9.02 9.07

9.07Phép nghềĐang kiểm chứng

Dấu trong logo chữ vẽ tay phải được vẽ cùng nét với chữ, không mượn dấu của một kiểu chữ khác.

Gặp khiLogo chữ vẽ riêng.

Phép thử mang về

Soi hai cỡ. Phóng lớn: góc cắt, đầu nét và độ tương phản của dấu có cùng tay với chữ không; dấu trông như dán vào là dấu mượn. Thu nhỏ còn cỡ ảnh đại diện: dấu có thành một mảng tối hay biến mất trước chữ không. Dấu không cần đậm bằng thân chữ, nó cần đậm ngang trong mắt. Đạt: ở cỡ lớn dấu cùng tay với chữ, ở cỡ ảnh đại diện dấu vẫn đọc được mà không thành mảng tối. Hỏng: dấu trông như dán vào, hoặc mất trước chữ khi thu nhỏ.

Nguồn

Nguồn

  • Donny Trương, Vietnamese Typography, chương Design Challenges và Diacritical Details (vietnamesetypography.com)

Đứng trên 9.01

9.02Nguyên lýĐang kiểm chứng

Khoảng dòng và khoá chữ của một thương hiệu Việt phải được đo theo chữ mang dấu chồng cao nhất và dấu dưới thấp nhất, không theo chữ Latin trần.

Gặp khiĐặt khoảng dòng (khoảng cách giữa hai dòng chữ) và dựng khoá chữ của logo (cụm chữ cố định của logo).

Phân xử

Đo bằng trường hợp xấu nhất có thể xảy ra trong nội dung thật, rồi mới siết.

Lập luận đầy đủ

Hai điều đều tốt kéo ngược nhau

Tiêu đề chặt dòng thì sắc và mạnh. Chữ hoa có dấu chồng như Ẩ, Ỗ, Ữ thì cần chỗ phía trên.

Vì sao đúng

Bộ khung chữ Latin được tính từ chiều cao chữ hoa. Dấu tiếng Việt, nhất là dấu thanh đặt trên dấu mũ (â, ê, ô) hay dấu trăng (ă), cộng thêm một đến hai tầng phía trên chiều cao ấy; dấu nặng dưới chữ hoa lấn xuống khoảng giữa hai dòng. Khoảng dòng tính theo chữ Latin sẽ để dấu dòng dưới chạm hoặc đè lên chân chữ dòng trên. Ngoài đời, đó là dòng tên in sát mép trên của thùng hàng hay hộp đèn: chữ Ổ, Ẫ bị xén dấu và đọc ra chữ khác. Trên website, khung chứa chữ cắt phần tràn sẽ xén mất dấu mà không báo lỗi. Và hệ chữ hiếm khi gãy ở ngày bàn giao; nó gãy ở ngày doanh nghiệp đặt tên sản phẩm thứ mười có chữ Ặ hay Ữ.

Khi nào điều này sai

Khoá chữ và khẩu hiệu đúc sẵn đã duyệt từng chữ được miễn phép đo khoảng dòng; chúng không được miễn bước khoá chữ của 9.06 về chỗ đứng cho tên sản phẩm con. Tiêu đề chữ thường không được miễn: chữ thường mang dấu chồng như ẫ, ổ có thể cao bằng hoặc hơn chữ hoa trần.

Theo nó thì mất gì

Tiêu đề trông thoáng hơn bản mẫu quốc tế; phải chấp nhận hoặc vẽ lại dấu thấp hơn cho riêng cỡ lớn.

Nguồn

  • Donny Trương, Vietnamese Typography, chương Design Challenges và Diacritical Details (vietnamesetypography.com)
  • Microsoft, OpenType Specification, bảng OS/2 (usWinAscent, usWinDescent, fsSelection bit 7 USE_TYPO_METRICS)

Dùng trong dịch vụThiết kế hệ giao diện số · Thiết kế hồ sơ năng lực doanh nghiệp

Đứng trên 9.01 0.5Triển khai thành 9.06

9.06Phép nghềĐang kiểm chứng

Thử một kiểu chữ bằng chữ Việt có dấu chồng và dấu dưới, không bằng câu mẫu tiếng Anh.

Gặp khiVòng chọn chữ đầu tiên, và lúc đặt khoảng dòng, dựng khoá chữ của logo.

Phép thử mang về

(1) Gõ đúng bộ: ẤN ĐỘ · ỔN ĐỊNH · KỶ NIỆM · NHỮNG · THẲNG · LẶNG · BẬT · TRƯỜNG · NGƯỠNG · Nghiêng ngửa, Ngưỡng cửa, Lượm lặt, Tưởng tượng, ẵm bồng. (2) Soi năm chỗ: dấu thanh có va dấu mũ hay dấu trăng không; móc của Ư, Ơ hoa có đâm vào dấu của chữ bên cạnh không; dấu nặng dưới ư, ơ có canh theo thân chữ không; dấu hỏi và dấu ngã ở cỡ nhỏ nhất trên màn hình có còn phân biệt được không; gõ lại câu bằng Unikey đặt bảng mã Unicode tổ hợp (dạng dấu rời, xem 9.09) và mở ở cỡ 12 đến 14px trên một máy Windows thật: dấu rời khỏi chữ là kiểu chữ chưa làm phần đặt dấu, dấu dính vào chữ hay mất nét là chữ chưa ổn trên màn hình. (3) Khoảng dòng (9.02): đặt hai dòng chồng nhau, dòng trên có g, p, y, dòng dưới có Ẫ, Ỗ, ở cỡ dùng thật; giữa đỉnh dấu và chân chữ phải còn khe trắng. Gõ dãy ký tự Ẫ Ằ Ỗ Ữ (tách rời, không phải một từ) ở cỡ lớn trong Word trên Windows: dấu bị cắt đầu là tệp chữ khai chiều cao thấp hơn dấu cao nhất, chỉnh khoảng dòng không cứu được, phải đổi chữ hoặc sửa tệp chữ. Gõ cùng dãy ấy trên trình duyệt: dấu bị cắt ở đây thường do khung chứa chữ, sửa ở khung. (4) Khoá chữ: gõ tên thương hiệu và ba tên sản phẩm con giả định có dấu chồng, có cả chữ mang dấu trên lẫn dấu dưới (Ặ, Ậ), bằng đúng khoá chữ logo; dấu nào không có chỗ đứng là chỗ hệ sẽ gãy khi doanh nghiệp lớn lên. Khoá chữ chủ đích không dấu thì đặt ba tên ấy cạnh khoá chữ: chữ có dấu đi kèm phải có chỗ đứng mà không phá khoá. (5) Vật liệu thật (9.04): in dòng chữ nhỏ nhất trên chính giấy hoặc decal sẽ dùng, in cả bản chữ trắng trên nền màu nếu bao bì có; in offset thì đòi bản in thử trên đúng giấy, máy in nhiệt thì in trên đúng máy, ở đúng độ phân giải sẽ chạy; đưa cho một người chưa đọc nội dung đọc to. Đạt: không dấu nào va nhau, chạm dòng hay bị cắt, ba tên con có chỗ đứng trong khoá chữ, và người đọc to đọc đúng mọi dấu. Hỏng: một dấu chạm dòng trên, bị xén ở Word hay trình duyệt, hoặc người đọc to đọc sai dù chỉ một dấu.

Đọc tiếpLuật hệ chữ để dấu tiếng Việt luôn đúng và đẹp

Đứng trên 9.02

9.03Nguyên lýĐang kiểm chứng

Một kiểu chữ chỉ ở lại lâu trong thương hiệu khi doanh nghiệp có quyền dùng nó ở mọi điểm chạm; không có quyền thì nó là một khoản nợ.

Gặp khiChọn chữ thương hiệu, nhất là khi dùng bản chữ đã Việt hoá sẵn lưu hành trên mạng. Điểm chạm ở đây là mọi chỗ khách gặp thương hiệu: in ấn, biển hiệu, website, ứng dụng, video, giấy tờ.

Phân xử

Một kiểu chữ mình không có quyền dùng là một khoản nợ chờ ngày đòi, dù dấu đẹp tới đâu.

Lập luận đầy đủ

Hai điều đều tốt kéo ngược nhau

Bản Việt hoá có sẵn thì nhanh, rẻ, dấu thường đã ổn. Quyền dùng thì đòi giấy phép cho in ấn, website, ứng dụng, video.

Vì sao đúng

Giấy phép kiểu chữ thường chia theo cách dùng (máy tính, web, ứng dụng, nhúng vào tệp) và nhiều giấy phép cấm sửa chữ gốc. Việt hoá là sửa. Thương hiệu càng lớn, càng hiện ở nhiều nơi thì rủi ro bị đòi quyền càng lớn, và đổi chữ khi đã dùng nhiều năm là mất một phần nhận biết. Không ít bản Việt hoá lưu hành trên mạng dựng từ chữ gốc chỉ cho dùng cá nhân; hợp lệ hay không do giấy phép của chữ gốc quyết, không do người Việt hoá. Logo đã chuyển nét thành hình không còn cần tệp chữ để hiện, nhưng quyền dùng hình chữ ấy vẫn do giấy phép quyết: nhiều giấy phép cho dùng trong logo, một số đòi giấy phép riêng hoặc cấm đăng ký nhãn hiệu có chứa chữ. Logo định đăng ký nhãn hiệu thì đọc đúng điều khoản ấy trước khi chốt.

Khi nào điều này sai

Kiểu chữ theo giấy phép mở cho phép sửa và dùng thương mại, như SIL Open Font License, với điều kiện bản đã sửa phải đổi tên nếu kiểu chữ gốc khai tên dành riêng.

Theo nó thì mất gì

Chi phí giấy phép, hoặc thu hẹp lựa chọn về các kiểu chữ có giấy phép rõ.

Nguồn

  • SIL Open Font License 1.1

Đứng trên 11.03Triển khai thành 11.07

9.04Nguyên lýĐang kiểm chứng

Chữ Việt của thương hiệu hỏng ở dấu trước tiên, nên được duyệt ở điểm chạm tệ nhất mà nó chắc chắn sẽ gặp, không ở màn hình của người thiết kế.

Gặp khiDuyệt chữ cho bộ nhận diện sẽ đi vào in ấn, biển hiệu, thêu, khắc, máy in nhiệt, ảnh bị nén khi gửi qua ứng dụng nhắn tin, ảnh đại diện cỡ nhỏ, và những chỗ chữ đi qua máy: ô tìm kiếm, kho dữ liệu, tên tệp.

Phân xử

Thân chữ giữ một hình; dấu được phép có bản riêng cho cỡ nhỏ và vật liệu thô, miễn người đọc vẫn đọc đúng từng dấu và người nhìn lướt không thấy hai kiểu chữ. Luật duyệt ở điểm chạm tệ nhất là của 10.03 và 8.01; điều này chỉ nói phần riêng của chữ Việt: thứ hỏng trước là dấu, và dấu hỏng thì chữ đọc ra chữ khác chứ không chỉ xấu đi.

Lập luận đầy đủ

Hai điều đều tốt kéo ngược nhau

Một bên là giữ một hình chữ duy nhất ở mọi cỡ và mọi vật liệu: nhất quán, dễ quản, khách gặp ở đâu cũng là cùng một chữ (12.01). Một bên là cho dấu được đổi theo nơi nó sống: to hơn, đậm hơn, khe rộng hơn ở cỡ nhỏ và trên vật liệu thô, vì dấu là nét nhỏ nhất và chết trước thân chữ.

Vì sao đúng

Dấu là những nét nhỏ nhất của chữ Việt, nên chúng chết trước tiên khi cỡ nhỏ, khi mực loe trên giấy không tráng phủ, khi chỉ thêu không đủ mũi, hay khi máy in nhiệt in độ phân giải thấp. Dấu nặng thường mất đầu tiên; dấu hỏi và dấu ngã thì loe thành một vệt rồi lẫn vào nhau. Có những điểm chạm mắt không thấy được: chữ trông đúng trên màn hình mà máy đọc ra một chuỗi khác, nên ô tìm kiếm không ra, đường dẫn không khớp (9.09).

Khi nào điều này sai

Thương hiệu chỉ sống trên màn hình độ phân giải cao, ở cỡ chữ lớn; chỉ miễn phần vật liệu, phần chữ đi qua máy thì không miễn.

Theo nó thì mất gì

Đôi khi phải có bản chữ riêng cho cỡ nhỏ và vật liệu thô.

Dùng trong dịch vụThiết kế website thương hiệu

Đứng trên 10.03 0.5Triển khai thành 9.08 9.09

9.08Phép nghềĐang kiểm chứng

Trên chữ nổi và biển cắt, dấu là một mảnh rời và phải được thiết kế như một mảnh rời.

Gặp khiBiển hiệu chữ nổi, chữ cắt mica, chữ đèn, chữ khắc trên tường.

Phép thử mang về

Trên bản vẽ thi công, mỗi dấu có cách bám (chân, keo, khung) và có khoảng cách tới chữ đủ để đọc ở khoảng nhìn thật. Bản vẽ không ghi cách bám của dấu là bản vẽ chưa xong. Với chữ đèn, đo bề rộng nét dấu so với bề rộng lòng hộp nhỏ nhất xưởng làm được, ứng với loại đèn xưởng dùng (mô-đun hay LED dây); dấu không chứa nổi đèn phải được quyết từ bản vẽ (phóng dấu, dấu không đèn hay cầu nối), không để xưởng tự xử lúc gia công. Đạt: mọi dấu trên bản vẽ có cách bám và khoảng cách ghi rõ, dấu chữ đèn đã có cách xử lý chọn sẵn. Hỏng: xưởng phải hỏi lại cách gắn dấu, hoặc tự quyết lúc gia công.

Đọc tiếpKỹ thuật làm chữ nổi: chọn đúng từ bản thiết kế

Đứng trên 9.04

9.09Phép nghềĐang kiểm chứng

Chuẩn hoá mọi chữ Việt về dạng dựng sẵn (NFC) ở chỗ chữ đi vào hệ thống, trước khi vào website, kho dữ liệu hay tệp in.

Gặp khiNội dung chép từ nhiều nguồn, tên tệp từ máy Mac, bộ gõ đặt bảng mã Unicode tổ hợp (dạng dấu rời), dữ liệu sản phẩm nhập hàng loạt qua biểu mẫu, tệp Excel, ảnh tải lên. Văn bản cũ ở bảng mã TCVN3 hay VNI phải chuyển mã sang Unicode trước; chuẩn hoá NFC không sửa được chúng. Chữ ế có thể được lưu thành một ký tự trọn, hoặc thành chữ e mũ cộng một dấu sắc rời. Trên màn hình hai dạng giống hệt; máy so thì thấy hai chuỗi khác nhau, như hai tờ tiền trông y nhau mà khác số sê-ri, nên ô tìm kiếm không ra tên có thật trên trang và tên tệp ảnh từ máy Mac không khớp đường dẫn trên máy chủ.

Phép thử mang về

(1) Chép chữ "Việt" từ website, từ kho dữ liệu và từ bộ gõ của nhân viên nhập liệu vào một ô đếm ký tự: ra 4 là dạng dựng sẵn, ra 5 hoặc 6 là có dấu rời. (2) Tìm một tên có dấu trên website bằng ô tìm kiếm. Đạt: cả ba nguồn đều ra 4, và ô tìm kiếm ra đúng tên. Hỏng: một nguồn ra 5 hoặc 6, hoặc ô tìm kiếm không ra dù tên có trên trang, hoặc dấu hiện lệch so với chữ quanh nó: dữ liệu đang lẫn hai dạng, phải chuẩn hoá ở chỗ chữ đi vào.

Nguồn

Nguồn

  • Unicode Standard Annex #15, Unicode Normalization Forms
  • W3C, Character Model for the World Wide Web: String Matching

Dùng trong dịch vụThiết kế hệ giao diện số · Thiết kế website thương hiệu

Đứng trên 9.04

9.05Nguyên lýĐang kiểm chứng

Bỏ dấu khỏi tên là trao đi một phần nghĩa; chỉ trao khi có lý do ghi thành văn, sau khi hỏi ai là người đọc chính trong năm năm tới.

Gặp khiĐặt tên hoặc vẽ chữ tên cho doanh nghiệp có tên tiếng Việt.

Phân xử

Bằng câu hỏi ai là người đọc chính trong năm năm tới, không bằng câu hỏi bản nào trông sạch hơn.

Lập luận đầy đủ

Hai điều đều tốt kéo ngược nhau

Bỏ dấu thì dễ đăng ký tên miền, dễ đọc với người nước ngoài, hình chữ gọn. Giữ dấu thì giữ nghĩa, giữ giọng, giữ gốc.

Vì sao đúng

Bỏ dấu không chỉ bỏ nét, nó đổi nghĩa và đổi cách đọc: một tên không dấu có thể ứng với nhiều tên có dấu. Khi dấu bị bỏ vì lý do hình thức, doanh nghiệp đã trao đi một phần nghĩa mà không ai cân xem đổi lại được gì.

Khi nào điều này sai

Tên vay mượn hoặc tên tự đặt vốn không có dấu. Tên khách đã đặt và đăng ký trước khi studio nhận việc thì studio không mở lại tên; bản không dấu chưa quy định thì vẫn soát theo 9.10, rủi ro nói ra bằng văn bản, quyền quyết là của khách. Chữ thương hiệu có thể đứng không dấu khi đủ ba điều kiện: nó là bản không dấu đã quy định của tên (9.10), lý do bỏ dấu được ghi trong cẩm nang, và ở mọi chỗ người ta đọc chữ, tên vẫn viết đủ dấu. Thiếu một điều kiện là bỏ dấu vì hình thức.

Theo nó thì mất gì

Giữ dấu thì phải sống với hai bản tên: bản có dấu cho người đọc và bản không dấu cho tên miền, tài khoản, hệ thống không gõ được dấu. Tên có vần oa, oe, uy còn mang thêm một lựa chọn là kiểu đặt dấu (hoà hay hòa), và lựa chọn ấy cũng phải chốt một lần (9.10).

Đọc tiếpTên tiếng Việt hay tiếng Anh: dựa vào ai nghe

Đứng trên 7.01 0.1Triển khai thành 9.10

9.10Phép nghềĐang kiểm chứng

Bản không dấu và kiểu đặt dấu của tên phải được quy định một lần, ghi vào cẩm nang, từ ngày đặt tên hoặc từ hôm nay nếu chưa có.

Gặp khiTên có dấu cần dùng ở tên miền, tài khoản mạng xã hội, tài khoản ngân hàng, hệ thống không gõ được dấu; tên hoặc lời thương hiệu có vần như oa, oe, uy (hoà hay hòa, thuỷ hay thủy).

Phép thử mang về

(1) Ghi vào cẩm nang hai dòng. Dòng một, bản không dấu: đ viết thành d hay dd, viết hoa thế nào, nối liền, gạch nối hay gạch dưới, kèm lý do. Dòng hai, kiểu đặt dấu thanh (hoà hay hòa), theo đúng tên trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu tên đăng ký có vần oa, oe, uy, và đặt sẵn trong bộ gõ của những người hay gõ tên (bán hàng, kế toán, truyền thông). (2) Liệt kê mọi nơi tên đang hiện và so với hai dòng ấy: nơi nào viết khác mà không có lý do ghi trong cẩm nang là nơi thương hiệu đang mang thêm một tên. Hai kiểu đặt dấu cùng sống thì ô tìm kiếm coi đó là hai tên, còn hoá đơn và giấy tờ viết lệch với tên đã đăng ký có thể phải làm lại. (3) Viết bản không dấu ra, đưa ba người lạ tự đọc và đoán tên gốc; nếu phần lớn đọc ra trước tiên một từ có nghĩa xấu thì bản không dấu cần sửa. Đạt: cẩm nang có đủ hai dòng, mọi nơi tên hiện khớp hai dòng ấy hoặc có lý do ghi sẵn, và người lạ đọc ra tên gốc. Hỏng: một nơi viết khác mà không lý do, hai kiểu đặt dấu cùng sống, hoặc bản không dấu bị đọc thành một từ có nghĩa xấu.

Dùng trong dịch vụCẩm nang quy chuẩn thương hiệu

Đọc tiếpTên miền trống không phải tiêu chí đầu

Đứng trên 9.05

Đem một điều về soi doanh nghiệp mình

Anh / Chị thấy doanh nghiệp mình đang đứng ở điều nào trong chương này, kể cho Sinh Vũ nghe. Sinh Vũ đọc cùng và nói thẳng chỗ nên làm trước.

Kể bài toán của mình
Về mục lục học thuyết