Một dự án thương hiệu do con người quyết, không phải do bản thiết kế. Và người quyết thường không chỉ là người ngồi trong phòng họp. Chương này bàn ba việc: đọc gu của chủ doanh nghiệp như một thông tin để làm, tìm người thật sự có quyền nói không, và giữ cho góp ý không biến dự án thành cuộc đoán ý. Ở doanh nghiệp gia đình, những việc ấy còn chạm tới danh dự của nhiều thế hệ.
Đọc nhanh: câu tóm tắt, lúc hay gặp và việc Anh / Chị thử ngay. Đọc đủ mở thêm lập luận, khi nào không áp dụng và nguồn. Mỗi nguyên lý đứng trước các phép nghề đi theo nó, nên số điều không chạy liền nhau.
Gu của chủ doanh nghiệp là thông tin để thiết kế theo, không phải rào cản phải vượt qua; việc của người thiết kế là chuyển gu ấy thành tiêu chí.
Gặp khiKhi chủ doanh nghiệp nói thích hay không thích một phương án mà không nói được vì sao, còn người thiết kế muốn thuyết phục khách làm theo chuyên môn của mình.
Nên chọn thế nào
Chuyển gu của chủ thành tiêu chí trước khi vẽ. Tiêu chí nào ảnh hưởng tới việc khách nhận ra và tin thương hiệu, người làm nghề nói thẳng cái giá của nó, kèm bằng chứng. Sau đó người chủ quyết.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Một bên là chuyên môn của người làm nghề: biết cái gì in và dựng được, cái gì khách nhận ra, cái gì sẽ nhanh cũ. Bên kia là cảm nhận của người chủ: người sống trong ngành, gặp khách mỗi ngày và chịu hậu quả của mọi quyết định.
Vì sao đúng
Người chủ biết nhiều hơn những gì họ nói ra được. Hiểu biết về ngành tích qua nhiều năm bán hàng, nghe khách, thua đối thủ thường nằm ở dạng cảm giác: thấy không hợp, thấy rẻ, thấy không giống mình. Đó là hiểu biết có thật, chỉ là chưa thành lời. Gạt cảm giác ấy đi chỉ vì chưa có lý lẽ thiết kế là bỏ phí một nguồn hiểu thị trường mà studio không có. Phần gu thuần cá nhân cũng vẫn là thông tin cần tính tới. Người chủ phải thấy tự hào khi đưa danh thiếp, và phải sống với logo ấy mỗi ngày. Một thương hiệu mà chính chủ không muốn nhận là của mình thì sẽ không được dùng đều.
Khi nào không áp dụng
Có lúc gu của chủ đi ngược bằng chứng đo được: khách không nhận ra, thiếu điều bắt buộc phải có của ngành, hoặc không làm ra được. Khi ấy bằng chứng thắng. Người làm nghề phải nói ra kèm bằng chứng, không im lặng chiều theo. Khi người đưa ý kiến không phải người thật sự quyết, gu ấy chỉ là một tiếng nói, không phải tiêu chí. Cũng có khi chủ khác xa khách mục tiêu, như chủ năm mươi lăm tuổi làm hàng cho khách hai mươi hai tuổi. Gu của chủ lúc ấy thường là gu của lớp khách cũ. Hãy đối chiếu nó với lời khách mục tiêu trước khi cho nó thành tiêu chí. Xem thêm 2.01, 3.02, 1.06, 2.07
Cái giá phải trả
Chậm hơn: nhiều buổi hỏi, nhiều vòng chuyển gu thành tiêu chí. Người làm nghề không được dùng uy chuyên môn để thắng nhanh. Đôi khi họ phải làm một phương án đúng mà không phải phương án mình thích nhất.
Hỏi lại từng lời “thích”, “không thích” bằng câu chỉ vào bản vẽ, tới khi câu trả lời thành một tiêu chí người khác kiểm được.
Gặp khiMỗi khi chủ doanh nghiệp góp ý bằng một tính từ: sang, rẻ, trẻ, không hợp, không giống mình.
Anh / Chị thử ngay
Cách hỏi lặp “vì sao” mượn từ lối tìm nguyên nhân lỗi trong sản xuất. Ở đây đích không phải tìm lỗi, mà tìm điều người nói đã thấy.
Hỏi tiếp bằng câu chỉ vào vật mỗi khi nghe một tính từ, và dùng lại đúng chữ của người nói. Ví dụ: “Chỗ nào trên bản này làm Anh / Chị thấy rẻ?”, “Nó giống cái gì Anh / Chị từng thấy?”
Hỏi tối đa ba đến năm lượt. Cứ hỏi “vì sao” liền nhiều lượt thì dễ thành chất vấn, và chủ doanh nghiệp sẽ thủ thế.
Dừng khi câu trả lời kiểm được bằng mắt hoặc bằng phép đo. Ví dụ giả định. Chủ nói màu này trông rẻ. Người thiết kế hỏi chỗ nào làm Anh / Chị thấy rẻ. Chủ đáp: giống hàng ngoài chợ. Hỏi tiếp: hàng ấy trông thế nào? Chủ đáp: nằm ở kệ dưới cùng, toàn màu chói.
Ghi lại tiêu chí rút ra. Với ví dụ trên: màu chủ không được cùng nhóm màu chói của hàng giá thấp trên kệ ngành.
Đọc lại tiêu chí cho người nói nghe và hỏi đã đúng ý chưa.
Đạt: một người không có mặt trong buổi ấy cầm tiêu chí chấm được phương án đạt hay không.
Chưa đạt: dừng ở một tính từ khác, như sang trọng hơn, hiện đại hơn. Tính từ chưa phải tiêu chí.
Nguồn
Nguồn
Taiichi Ohno, Toyota Production System: Beyond Large-Scale Production, Productivity Press, 1988
Ở doanh nghiệp vừa và nhỏ, người có quyền nói không thường không có chức danh, như vợ hay chồng, cha mẹ, đại lý lớn; hãy tìm ra họ trước buổi trình đầu tiên.
Gặp khiKhi bắt đầu một dự án, và người làm việc với studio là chủ, giám đốc, hay một người được giao phụ trách.
Nên chọn thế nào
Không mời thêm người cho đông. Hãy tìm đúng người có thể chặn dự án, và đưa họ vào sớm ở một mốc định trước. Người chỉ góp ý thì nghe riêng, và đề nghị khách để họ ngoài buổi quyết. Xem thêm 3.06
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Buổi họp ít người thì quyết nhanh, ý rõ, trách nhiệm gọn. Mời nhiều người thì mỗi người kéo một hướng, và kết quả thường là một thoả hiệp nhạt.
Vì sao đúng
Khi một tổ chức mua dịch vụ, nhiều người cùng tham gia với những vai khác nhau (theo cách chia của Webster và Wind). Đó là người dùng, người ảnh hưởng, người mua, người quyết, và người gác cửa. Người gác cửa là người lọc thông tin trước khi tới tay người quyết. Ở doanh nghiệp vừa và nhỏ, các vai ấy ít khi có chức danh. Người ký hợp đồng có thể là chủ. Nhưng vợ hay chồng, cha mẹ, cổ đông góp vốn, kế toán trưởng hay đại lý lớn nhất có thể có quyền nói không mà không ai ghi ra. Quyền nói không xuất hiện càng muộn càng tốn kém. Ở buổi chọn hướng, nó tốn một buổi. Ở buổi duyệt cuối, nó xoá cả chặng thiết kế. Quyết định không rõ ai chịu trách nhiệm thì sẽ bị quyết lại.
Khi nào không áp dụng
Doanh nghiệp một chủ thật sự quyết một mình thì đừng bịa thêm người; hỏi một câu là đủ. Tổ chức lớn có quy trình duyệt bằng văn bản thì bản đồ người quyết đã có sẵn, việc chỉ là đọc nó.
Cái giá phải trả
Người làm nghề phải hỏi câu khó, kiểu “Ngoài Anh / Chị, còn ai có thể làm việc này dừng lại?”, và có khi làm người đối diện phật ý. Lịch dự án còn phụ thuộc lịch của những người không ngồi trong phòng.
Nguồn
Frederick E. Webster Jr. và Yoram Wind, A General Model for Understanding Organizational Buying Behavior, Journal of Marketing, 1972
Ở doanh nghiệp gia đình, tên và logo mang danh dự của gia đình; đổi chúng là chuyện tình cảm trước khi là chuyện thiết kế.
Gặp khiKhi doanh nghiệp gia đình đang chuyển thế hệ, và người kế nghiệp muốn làm mới thương hiệu do cha mẹ hay ông bà dựng nên.
Nên chọn thế nào
Giữ phần mang danh dự, như tên, chữ ký, một hình gốc có câu chuyện. Làm mới phần cần chạy tốt, như hệ thống nhận diện, kiểu chữ phụ, cách dùng trên nền tảng số, bao bì phụ. Trước khi trình hình, nói rõ với cả hai thế hệ phần nào giữ và vì sao.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Một bên là làm mới để sống được ở kênh bán mới, với khách trẻ, ở thị trường mới. Bên kia là giữ, để tôn trọng người lập nghiệp và giữ niềm tin của khách đã mua nhiều năm.
Vì sao đúng
Doanh nghiệp gia đình cân cả những giá trị không phải tiền: bản sắc gia đình, tiếng tăm trong cộng đồng, việc truyền lại cho đời sau. Nghiên cứu về doanh nghiệp gia đình cho thấy họ sẵn sàng chịu rủi ro tài chính để giữ những giá trị ấy. Tên và logo là nơi các giá trị ấy hiện ra trước mọi người. Vì thế đổi chúng là nói công khai một điều về thế hệ trước. Mỗi người trong nhà còn đứng ở vị trí khác nhau: có thuộc gia đình không, có sở hữu không, có điều hành không. Lợi ích của mỗi vị trí cũng khác nhau. Người kế nghiệp muốn đổi để chứng tỏ mình. Người lập nghiệp lại nghe điều ấy như bị phủ nhận. Nếu hai thế hệ chưa từng nói chuyện với nhau về chuyện này, một buổi trình chỉ bàn thiết kế sẽ không thay được cuộc nói chuyện đó.
Khi nào không áp dụng
Có lúc gánh tình cảm nhẹ đi, và bài toán trở về như ở mọi doanh nghiệp khác. Đó là khi tên gia đình đang gặp rủi ro pháp lý hay danh tiếng, như tranh chấp nhãn hiệu giữa các nhánh trong họ. Cũng vậy khi doanh nghiệp đã bán cho người ngoài, hoặc khi chính người lập nghiệp muốn đổi.
Cái giá phải trả
Dự án dài hơn, có những buổi gặp không bàn thiết kế. Kết quả ít mới hơn điều thế hệ sau mong. Người làm nghề có khi phải đứng giữa hai thế hệ mà không đứng về phía nào. Trước buổi trình hình phải có thêm một buổi, để cả hai thế hệ cùng xếp từng thứ vào phần mang danh dự hay phần chỉ cần chạy tốt. Thứ nào hai thế hệ xếp khác nhau là chỗ dự án sẽ vỡ. Chỗ ấy được giải bằng một cuộc nói chuyện, không bằng một phương án thiết kế.
Nguồn
Luis R. Gómez-Mejía và cộng sự, Socioemotional Wealth and Business Risks in Family-controlled Firms, Administrative Science Quarterly, 2007
Renato Tagiuri và John A. Davis, Bivalent Attributes of the Family Firm, Family Business Review, 1996
Vẽ bản đồ người quyết: ai đề xuất, ai quyết, ai trả tiền, ai dùng hằng ngày, ai có quyền nói không.
Gặp khiBuổi làm việc đầu tiên của một dự án, trước khi hẹn lịch các buổi trình.
Anh / Chị thử ngay
Bản đồ chỉ cần một tờ giấy với năm vai, mỗi vai là một người thật. Một người có thể giữ nhiều vai.
Ghi người đề xuất làm dự án.
Ghi người quyết, tức người có tiếng nói cuối với lựa chọn thiết kế.
Ghi người ký chi.
Ghi người dùng hằng ngày: nhân viên bán hàng, người thiết kế nội bộ, nhà in quen của doanh nghiệp.
Ghi người có quyền nói không: kế toán, pháp lý, người nhà, cổ đông. Kể cả người tư vấn bên ngoài như thầy phong thuỷ hay người xem ngày, vì họ có thể chặn một màu, một hình hay ngày ra mắt vào phút chót.
Hỏi người phụ trách: “Nếu ngày duyệt cuối có người nói không, người đó thường là ai?” Hỏi thêm ngay từ buổi đầu: “Màu và ngày ra mắt có cần hỏi ý ai không?”
Gắn mỗi vai vào một mốc: ai cần có mặt ở buổi chọn hướng, ai cần được hỏi trước khi bàn giao. Xem thêm 3.06
Đạt: mỗi vai có tên một người thật. Vai dùng hằng ngày có ít nhất một người được hỏi ý trước khi bàn giao, vì họ là người giữ chuẩn sau đó.
Chưa đạt: cả năm vai đều ghi tên chủ, trong khi chưa ai hỏi người phụ trách câu về ngày duyệt cuối.
Nguồn
Nguồn
Frederick E. Webster Jr. và Yoram Wind, A General Model for Understanding Organizational Buying Behavior, Journal of Marketing, 1972
Mời người có quyền nói không vào buổi chọn hướng, đừng đợi tới buổi duyệt cuối.
Gặp khiKhi bản đồ người quyết cho thấy có người làm dừng được dự án mà không trực tiếp làm việc với studio. Xem thêm 3.08
Anh / Chị thử ngay
Buổi chọn hướng là buổi Anh / Chị và studio cùng chọn một hướng thiết kế để làm tiếp, trước khi vẽ chi tiết.
Gạch tên những người có thể nói không trong bản đồ người quyết. Xem thêm 3.08
Hỏi người phụ trách xem những người ấy dự buổi chọn hướng được không.
Gặp riêng trước buổi ấy nếu họ không dự được. Trình đúng các tiêu chí đã xác nhận và các phương án đang cân nhắc. Ghi lại ý họ và đưa vào buổi chọn hướng.
Đạt: sau buổi chọn hướng, không có ai mới xuất hiện với quyền nói không.
Chưa đạt: tới buổi duyệt cuối mới xuất hiện những câu như “để hỏi ý nhà đã”, “để trình anh cả”, “để sếp tổng xem”. Lúc ấy mỗi ý mới tốn cả chặng thiết kế, thay vì một buổi.
Trước khi sửa bất cứ thứ gì, tách góp ý vì không thích (gu) khỏi góp ý vì chưa đúng (tiêu chí).
Gặp khiSau mỗi buổi trình, khi góp ý dồn về từ nhiều người.
Anh / Chị thử ngay
Mỗi lần sửa phải có lý do.
Ghi mọi góp ý vào một bảng.
Ghi ở mỗi dòng người nói và vai của họ trên bản đồ người quyết, thêm hai cột “chưa đúng” và “không thích”. Xem thêm 3.08
Hỏi với từng góp ý: nó trỏ về tiêu chí nào trong đề bài? Có thì xếp vào cột “chưa đúng”, phải sửa. Không thì xếp vào cột “không thích”. Xem thêm 3.05
Hỏi tiếp góp ý “không thích” theo cách hỏi lại từng tính từ. Xem thêm 3.04
Xử lý theo kết quả hỏi. Ra một tiêu chí mới và quan trọng thì đó là đổi đề bài: ghi lại và bàn lại phạm vi. Vẫn chỉ là gu thì người làm nghề nói rõ sửa theo nó sẽ mất gì, rồi người quyết chọn. Gu của người không có quyền quyết thì ghi nhận, không tự động đưa vào danh sách phải sửa. Xem thêm 3.02
Đạt: mỗi lần sửa có một dòng lý do. Lý do hoặc trỏ về tiêu chí, hoặc ghi rõ là theo gu người quyết, và người quyết đã biết cái giá.
Chưa đạt: sửa hết mọi góp ý, cái nào đến trước sửa trước. Sau ba vòng, không ai nhớ phương án đang giải bài toán nào.