Dấu hiệu ở chương này là hình nhận biết của thương hiệu: biểu tượng, logo hình, cùng các biến thể của nó. Phần chữ và dấu thanh trong logo thuộc chương 9. Dấu hiệu và màu thường được duyệt trên màn hình, ở cỡ lớn, dưới ánh sáng văn phòng. Rồi phần lớn thời gian chúng lại xuất hiện ở cỡ ảnh đại diện, trên vải, trên tôn, dưới nắng. Chương này đưa việc duyệt về đúng những chỗ ấy.
Đọc nhanh: câu tóm tắt, lúc hay gặp và việc Anh / Chị thử ngay. Đọc đủ mở thêm lập luận, khi nào không áp dụng và nguồn. Mỗi nguyên lý đứng trước các phép nghề đi theo nó, nên số điều không chạy liền nhau.
Logo tốt phải nhận ra được khi in thật nhỏ, hay khi thêu, khắc trên vật liệu thô; chi tiết đẹp chỉ là phần cộng thêm khi in lớn.
Gặp khiKhi vẽ hoặc duyệt dấu hiệu mới, làm mới dấu hiệu cũ, và khi dấu hiệu sắp đi vào thêu, khắc, dập nổi, in một màu hay làm ảnh đại diện mạng xã hội. Điểm chạm ở đây là mọi chỗ khách gặp thương hiệu.
Nên chọn thế nào
Dáng tổng phải tự đứng được ở điểm chạm tệ nhất, khi mọi chi tiết đã mất. Quy tắc ấy cũng áp cho chữ. Chi tiết vẫn được phép có, như một lớp thêm ở cỡ lớn, miễn là bỏ nó đi không làm dấu hiệu thành một hình khác. Xem thêm 9.04
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Dấu hiệu nhiều chi tiết kể được câu chuyện, trông giàu và sang ở cỡ lớn, làm chủ doanh nghiệp thấy công sức xứng tiền. Dấu hiệu dáng gọn sống được ở cỡ nhỏ và trên vật liệu thô, nhưng dễ bị chê là đơn giản quá.
Vì sao đúng
Khi thu nhỏ hay chuyển sang vật liệu thô, dấu hiệu mất chi tiết theo một thứ tự gần như cố định. Dải màu chuyển mất trước, rồi tới nét mảnh, rồi những khe hở hẹp bị lấp. Thứ còn lại sau cùng là dáng ngoài và vài mảng đặc lớn. Mũi chỉ thêu có bề rộng nhất định, tia khắc loe ra một chút, máy in nhiệt chỉ có một màu, ảnh đại diện bị cắt vào khung tròn và nén. Nếu người ta nhận ra dấu hiệu nhờ chi tiết, thì ở những chỗ ấy họ đang nhìn một hình khác. Trí nhớ của khách khi ấy chia làm hai thay vì dồn vào một hình. Những chỗ nhỏ và thô lại thường là chỗ dấu hiệu xuất hiện nhiều nhất: ô tin nhắn, áo đồng phục, tem niêm phong, con dấu. Xem thêm 0.2, 0.4
Khi nào không áp dụng
Dấu hiệu cũ đã được nhận ra nhờ một chi tiết thì chi tiết ấy là tài sản, tức thứ khách dùng để nhận ra thương hiệu. Hãy giữ nó ở bản chính và vẽ thêm bản rút gọn có quy định, đừng gọt bản chính cho vừa cỡ nhỏ. Thương hiệu mà dấu hiệu luôn hiện lớn, như công trình hay sản phẩm cao cấp đóng hộp lớn, thì cỡ nhỏ ít quyết định hơn. Nhưng vật liệu khó vẫn quyết định. Xem thêm 1.02
Cái giá phải trả
Dấu hiệu mất một phần chi tiết kể chuyện. Doanh nghiệp phải quản lý hai ba bản dấu hiệu theo cỡ, mỗi bản có quy định dùng ở đâu, và người giữ chuẩn phải biết bản nào đi với cỡ nào.
Nguồn
Tom Geismar, Sagi Haviv, Ivan Chermayeff, Identify: Basic Principles of Identity Design in the Iconic Trademarks of Chermayeff & Geismar, HOW Books, 2011
Thử dấu hiệu ở bốn kiểu trước khi duyệt: một màu, đảo nền, cỡ ảnh đại diện trong khung tròn, và thêu trên vải.
Gặp khiVòng duyệt dấu hiệu, trước buổi trình để chốt.
Anh / Chị thử ngay
Kiểu nào hỏng thì sửa dáng hoặc vẽ bản rút gọn có quy định, đừng để xưởng tự gọt. Xem thêm 8.01
Thử một màu: tô toàn bộ dấu hiệu bằng một màu đặc, không dải chuyển, không viền phụ. Phải nhờ màu mới nhận ra thì dấu hiệu sẽ hỏng trên con dấu, bản khắc, máy in nhiệt.
Thử đảo nền, tức đổi chỗ hình và nền: dấu hiệu trắng trên nền đen hay nền màu đặc. Xem khe hở có bị lấp không, mảng đặc có hoá thành một lỗ mang nghĩa khác không.
Thử ảnh đại diện: đặt vào khung tròn, xem ở cỡ hiện thật trong danh sách tin nhắn trên điện thoại, cạnh vài ảnh đại diện khác.
Hỏi xưởng thêu bề rộng nét nhỏ nhất và khe hở nhỏ nhất họ làm được trên đúng loại vải sẽ dùng.
Đối chiếu với dấu hiệu ở cỡ thêu thật trên ngực áo. Nét nào mảnh hơn, khe nào hẹp hơn mức xưởng làm được là chỗ sẽ bị gộp hay bỏ. Tốt nhất là thêu thử một mẫu.
Đạt: nhìn là nhận ra ngay ở cả bốn kiểu.
Chưa đạt: phải nhờ màu mới nhận ra, hoặc ở cỡ ảnh đại diện dấu hiệu bị khung cắt góc hay chỉ còn một vệt mờ.
Đặt dấu hiệu dự kiến cạnh dấu hiệu của những người cùng ngành, cùng cỡ, cùng một màu, rồi nhìn lướt xem có lẫn không.
Gặp khiTrước khi trình chốt dấu hiệu, nhất là khi dấu hiệu dùng một hình quen của ngành như lá cây, giọt nước, mái nhà, chữ cái đầu trong vòng tròn. Ví dụ giả định: một doanh nghiệp rau sạch chọn chiếc lá xanh trong vòng tròn, trong khi nửa số sạp cùng chợ đã dùng chiếc lá xanh.
Anh / Chị thử ngay
Đánh giá khả năng nhầm lẫn về mặt pháp lý là việc của người có chuyên môn sở hữu trí tuệ.
Gom dấu hiệu của những doanh nghiệp bán cùng loại hàng, ở cùng chỗ bán. Có bản đồ quy ước của ngành thì lấy từ đó. Xem thêm 2.03
Đưa tất cả về cùng cỡ nhỏ và cùng một màu đen, để chỉ còn dáng. Màu được so riêng sau.
Xếp dấu hiệu dự kiến lẫn vào giữa. Cho một người lạ nhìn vài giây, rồi hỏi cái nào khác nhất và cái nào giống nhau.
Tra thêm nhãn hiệu hình đã đăng ký trong cùng nhóm hàng, nếu định đăng ký nhãn hiệu.
Tra theo nhóm hình như lá, nhà, vòng tròn, không chỉ theo tên. Nhãn hiệu hình được xếp theo Bảng phân loại Viên, tức bảng quốc tế chia yếu tố hình thành từng nhóm, lập theo Thoả ước Viên.
Đạt: người lạ chỉ ra dấu hiệu dự kiến là cái khác nhất.
Chưa đạt: dấu hiệu dự kiến bị gọi là giống một dấu hiệu khác, dù trên bản trình nó trông riêng.
Nguồn
Nguồn
WIPO, Vienna Agreement Establishing an International Classification of the Figurative Elements of Marks, 1973
Màu chỉ giúp khách nhận ra thương hiệu khi được dùng giống nhau rất nhiều lần, nên một màu dùng đều hơn năm màu dùng lẫn.
Gặp khiKhi chốt hệ màu, làm ấn phẩm chiến dịch, mở dòng sản phẩm mới, và khi đội nội bộ muốn đổi màu cho đỡ chán.
Nên chọn thế nào
Màu chủ là phần cốt lõi, xuất hiện ở cùng vai trò trên mọi điểm chạm. Màu phụ đổi theo chiến dịch hay theo dòng được, miễn là không bao giờ đứng vào chỗ của màu chủ.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Nhiều màu thì ấn phẩm sinh động, chiến dịch nào cũng mới, mỗi dòng sản phẩm có màu riêng, đội nội bộ đỡ chán. Một màu chủ dùng đều thì ấn phẩm bị gò bó, nhưng khách nhớ được màu ấy.
Vì sao đúng
Mắt bắt được màu từ xa và từ khoé mắt, trước cả khi đọc được chữ hay nhận ra hình. Nhưng màu tự nó không mang tên ai. Nó chỉ gợi ra một thương hiệu khi người ta đã gặp màu ấy đi cùng thương hiệu ấy đủ nhiều lần. Mỗi lần thương hiệu xuất hiện bằng một màu khác là một lần trí nhớ của khách bị chia ra. Năm màu dùng lẫn tạo năm mối nhớ mỏng. Trong ngành mà đối thủ cũng dùng các màu ấy, không mối nhớ nào đủ đậm để chỉ về một doanh nghiệp. Đội nội bộ chán màu rất lâu trước khi khách kịp nhớ nó, và cảm giác ấy không phải lý do để đổi. Xem thêm 0.4, 12.01
Khi nào không áp dụng
Thương hiệu có nhiều dòng sản phẩm thì cần màu để khách tìm đúng hàng trên kệ. Khi ấy màu dòng lo việc tìm, còn màu chủ vẫn phải giữ một chỗ cố định trên mọi bao bì. Ngành mà một màu là điều bắt buộc phải có thì màu ấy không phân biệt được ai, và doanh nghiệp phải tìm thứ giúp khách nhận ra ở chỗ khác. Xem thêm 4.03, 4.07, 2.01
Cái giá phải trả
Ấn phẩm chiến dịch bị gò bó, người thiết kế ít chỗ để chơi. Doanh nghiệp phải kiên nhẫn qua giai đoạn đội nội bộ thấy nhàm mà khách chưa kịp nhớ.
Nguồn
Jenni Romaniuk, Building Distinctive Brand Assets, Oxford University Press, 2018
Byron Sharp, How Brands Grow: What Marketers Don't Know, Oxford University Press, 2010
Quy định tỉ lệ dùng màu cho từng loại điểm chạm, để màu chủ chiếm phần dễ thấy nhất chứ không chỉ có mặt.
Gặp khiKhi viết phần màu của cẩm nang. Và khi rà lại vì thấy thương hiệu trông mỗi nơi một kiểu, dù ai cũng dùng đúng mã màu.
Anh / Chị thử ngay
Phép thử này cho biết khách đang nhớ màu nào.
Chụp hai mươi điểm chạm đang dùng: bài đăng, bao bì, biển, đồng phục, website, tài liệu bán hàng.
Xếp thành một lưới, thu nhỏ hoặc làm mờ ảnh cho tới khi không đọc được chữ.
Hỏi: màu nào nổi lên? Nếu đó là một màu phụ, hay mỗi ô một màu khác, thì khách đang nhớ màu phụ, dù màu chủ vẫn có mặt đâu đó.
Viết quy định tỉ lệ cho từng loại điểm chạm, bằng ví dụ hình và bằng lời. Nói rõ màu chủ đứng ở vai trò nào, như nền, mảng lớn, thanh nhận diện, và màu phụ được phép chiếm tới đâu.
Đạt: làm lại phép làm mờ ở lần rà theo quý mà cả lưới vẫn ngả về một màu. Xem thêm 11.05
Chưa đạt: quy định chỉ liệt kê mã màu mà không nói màu nào được nhiều chỗ nhất.
Màu thương hiệu không chỉ là một mã trên màn hình, mà phải có một mẫu gốc làm chuẩn và mức lệch cho phép trên từng vật liệu.
Gặp khiKhi chốt hệ màu, giao màu cho nhà in, xưởng biển, xưởng may, xưởng sơn, đội làm website. Và khi hai điểm chạm đặt cạnh nhau mà màu lệch.
Nên chọn thế nào
Không vật liệu nào khớp tuyệt đối được với vật liệu khác. Việc của người thiết kế là định ra màu đích, mức lệch cho phép trên từng vật liệu, và vật liệu nào làm gốc khi hai vật liệu không khớp nhau.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Khớp tuyệt đối thì thương hiệu trông chỉn chu, mọi nơi một màu. Chấp nhận một mức lệch thì làm được trên mọi vật liệu, nhanh và rẻ hơn.
Vì sao đúng
Màn hình phát ánh sáng từ ba màu, còn giấy, vải, sơn, nhựa thì phản chiếu ánh sáng chiếu vào chúng. Cùng một công thức bốn màu in trên giấy tráng phủ và giấy không tráng phủ đã cho hai màu. Đó là vì mực thấm khác nhau và giấy trắng khác nhau. Bốn màu ấy là bốn mực in xanh lơ, cánh sen, vàng, đen, thường gọi CMYK. Chuẩn in offset ISO 12647-2 vì thế tách điều kiện in theo loại giấy. Vải nhuộm, sơn tường, mica, decal, đèn hộp mỗi thứ chỉ làm ra được một vùng màu riêng. Cùng một màu đỏ in trên giấy bóng và giấy mờ đã ra hai màu đỏ, và nhiều màu tươi trên màn hình không vật liệu nào làm ra được. Ánh sáng nơi xem cũng làm màu đổi khác. Hai mẫu khớp nhau dưới đèn này có thể lệch dưới đèn khác, nên ngành in so màu dưới nguồn sáng chuẩn, quy định trong ISO 3664:2025 về điều kiện xem. Vì vậy mã màu trên màn hình chỉ là một lời mô tả. Nếu không có mẫu gốc và mức lệch cho phép, mỗi xưởng sẽ tự chọn màu gần nhất mình làm được, mười xưởng ra mười màu.
Khi nào không áp dụng
Thương hiệu chỉ sống trên màn hình thì không có vật liệu để giao. Nhưng màn hình của khách cũng mỗi máy một kiểu, nên vẫn chỉ kiểm được trong một khoảng. Màu mang thông tin an toàn hay theo quy chuẩn của ngành thì đi theo quy chuẩn ấy, không theo cẩm nang thương hiệu.
Cái giá phải trả
Doanh nghiệp phải làm, ký duyệt, giữ gìn mẫu thật và chịu tiền in thử. Doanh nghiệp cũng phải chấp nhận rằng đặt hai vật liệu sát nhau thì mắt tinh vẫn thấy lệch nhỏ.
Nguồn
ISO 3664:2025, Graphic technology and photography, Viewing conditions
ISO 12647-2:2013, Graphic technology, Process control for the production of half-tone colour separations, proof and production prints, Part 2: Offset lithographic processes (chỉ áp cho in offset)
CIE 142-2001, Improvement to industrial colour-difference evaluation
Định ra mỗi màu thương hiệu bằng một mẫu thật đã ký duyệt, kèm mã riêng cho từng vật liệu sẽ dùng.
Gặp khiKhi viết phần màu của cẩm nang, và trước lần giao màu đầu tiên cho một xưởng mới.
Anh / Chị thử ngay
Phép này giúp mọi xưởng làm ra cùng một màu mà không cần đoán.
Lập bảng, mỗi hàng một màu, mỗi cột một vật liệu thương hiệu thật sự dùng: giấy tráng phủ, giấy không tráng phủ, decal, vải, sơn, mica hay đèn hộp, màn hình.
Ghi vào mỗi ô đúng loại mã của vật liệu ấy: công thức bốn màu theo điều kiện in, mã màu pha, mã sơn, mã màu màn hình. Ô trống là chỗ xưởng sẽ tự đoán.
Ghi màu của đèn hộp và biển có đèn ở cả lúc đèn tắt và lúc đèn bật, vì ánh sáng của đèn làm đổi màu chủ.
Xin xưởng làm mẫu màu trên đúng vật liệu chính, so dưới cùng một nguồn sáng. Ký và ghi ngày lên mẫu đạt. Khi có tranh cãi, mẫu ấy là gốc, không phải màn hình.
Chọn một vật liệu làm gốc cho cả hệ, để khi hai vật liệu không thể cùng khớp thì biết cái nào theo cái nào.
Cất mẫu trong bìa tối, ghi ngày làm. Mẫu giấy và mẫu vải cũng phai và ngả màu theo thời gian, nên thay khi thấy khác với lần ký.
Đạt: một xưởng mới chưa từng làm việc với thương hiệu làm ra màu trong mức lệch cho phép ngay lần đầu, chỉ với bảng và mẫu.
Chưa đạt: phải gửi ảnh chụp màn hình để giải thích màu.
Chọn màu và vật liệu ngoài trời theo sức chịu nắng, nóng và ẩm của nơi treo thật, không theo bản in thử xem trong phòng máy lạnh.
Gặp khiKhi làm biển hiệu, bạt, decal dán kính, mái che, xe giao hàng, bao bì trưng ngoài sạp, ở nơi khí hậu nóng ẩm, nắng gắt, mùa mưa dài, hay vùng biển có hơi muối.
Anh / Chị thử ngay
Mẫu treo thử phải ra từ đúng xưởng và đúng vật liệu sẽ làm cả loạt. Xem thêm 10.05
Hỏi xưởng ba câu bằng văn bản. Mực hay sơn này dùng ngoài trời được không? Có lớp cán hay phủ chống tia cực tím không? Nhà sản xuất vật liệu ghi độ bền ngoài trời trong điều kiện nào? Nhiều bảng thông số ghi độ bền theo vùng khí hậu, và vùng nắng nóng thường được ghi ngắn hơn. Con số ghi cho xứ lạnh không áp được cho mặt tiền hướng tây ở đây.
Xác định màu nào yếu. Các màu tươi như đỏ, hồng, cam, vàng chanh, và nhất là màu huỳnh quang, thường bạc nhanh hơn đen, trắng và các màu sẫm trầm.
Ghi sẵn lịch thay và tiền thay nếu màu chủ thuộc nhóm yếu. Hoặc chọn vật liệu có màu nằm trong chính chất liệu, thay vì in lên bề mặt.
Hỏi xưởng cách bắt vít và chừa khe giãn nở cho tấm lớn màu sẫm. Màu sẫm hút nhiệt, nên tấm lớn phơi nắng dễ cong vênh, keo và decal bong sớm hơn.
Treo một mẫu nhỏ ở đúng hướng nắng gắt nhất của điểm treo, cất một mẫu giống hệt trong tối. Sau vài tháng, đặt hai mẫu cạnh nhau mà so.
Soi thêm mép tấm, chân vít, ron đèn hộp ở nơi ẩm và có hơi muối.
Đạt: doanh nghiệp biết trước màu đã chọn sẽ đổi thế nào và có kế hoạch cho điều ấy.
Chưa đạt: biển đã bạc mới biết màu chủ là màu yếu.