Học thuyết nghề · Chương 8

Dấu hiệu và màu

Phần III. Làm đúng. 8 điều: 3 nguyên lý và 5 phép nghề, mỗi điều có câu chốt, lúc gặp và việc mang về.

8 điều trong chương
  1. 8.01Một dấu hiệu được định nghĩa bởi dáng còn lại ở cỡ nhỏ nhất và trên vật liệu khó nhất của nó
  2. 8.04Thử dấu hiệu ở bốn trạng thái trước khi duyệt
  3. 8.08Đặt dấu hiệu ứng viên cạnh dấu hiệu của những người cùng ngành
  4. 8.02Màu chỉ thành tài sản khi được dùng giống nhau rất nhiều lần
  5. 8.07Quy định tỉ lệ dùng màu theo từng loại điểm chạm
  6. 8.03Màu thương hiệu là một đích kèm dải dung sai trên từng vật liệu
  7. 8.05Định nghĩa mỗi màu thương hiệu bằng một mẫu vật lý đã ký duyệt kèm mã riêng cho từng vật liệu…
  8. 8.06Chọn màu và vật liệu ngoài trời theo sức chịu nắng

Dấu hiệu ở chương này là hình nhận biết của thương hiệu: biểu tượng, logo hình, cùng các biến thể của nó; phần chữ và dấu thanh trong logo thuộc chương 9. Dấu hiệu và màu thường được duyệt trên màn hình, ở cỡ lớn, dưới ánh sáng văn phòng. Rồi chúng sống phần lớn đời mình ở cỡ ảnh đại diện, trên vải, trên tôn, dưới nắng. Chương này đặt phép duyệt về đúng những chỗ ấy.

Đọc nhanh: câu chốt, lúc gặp và việc mang về. Đọc đủ mở thêm lập luận, ranh giới và nguồn. Mỗi nguyên lý đứng trước các phép nghề của nó, nên số điều không chạy liền.

Có bằng chứngĐang kiểm chứng

8.01Nguyên lýĐang kiểm chứng

Một dấu hiệu được định nghĩa bởi dáng còn lại ở cỡ nhỏ nhất và trên vật liệu khó nhất của nó; chi tiết chỉ là phần thưởng ở cỡ lớn.

Gặp khiVẽ hoặc duyệt dấu hiệu mới, làm mới dấu hiệu cũ, và khi dấu hiệu sắp đi vào thêu, khắc, dập nổi, in một màu hay ảnh đại diện mạng xã hội. Điểm chạm ở đây là mọi chỗ khách gặp thương hiệu.

Phân xử

Dáng tổng phải tự đứng được ở điểm chạm tệ nhất, khi mọi chi tiết đã mất (cùng luật ấy áp cho chữ ở 9.04); chi tiết được phép có, như một tầng thêm ở cỡ lớn, miễn là bỏ nó đi không làm dấu hiệu thành một hình khác.

Lập luận đầy đủ

Hai điều đều tốt kéo ngược nhau

Dấu hiệu nhiều chi tiết kể được câu chuyện, trông giàu và sang ở cỡ lớn, làm chủ doanh nghiệp thấy công sức xứng tiền. Dấu hiệu dáng gọn sống được ở cỡ nhỏ và trên vật liệu thô, nhưng dễ bị chê là đơn giản quá.

Vì sao đúng

Khi thu nhỏ hay chuyển sang vật liệu thô, dấu hiệu mất theo một thứ tự gần như cố định: dải màu chuyển mất trước, rồi nét mảnh, rồi những khe hở hẹp bị lấp. Thứ còn lại sau cùng là dáng ngoài và vài mảng đặc lớn. Mũi chỉ thêu có bề rộng của nó, tia khắc có độ loe của nó, máy in nhiệt chỉ có một màu, ảnh đại diện bị cắt vào khung tròn và nén. Nếu người ta nhận ra dấu hiệu nhờ chi tiết, thì ở những chỗ ấy họ đang nhìn một hình khác, và nhận biết chia làm hai thay vì cộng dồn (0.2, 0.4). Những chỗ nhỏ và thô lại thường là chỗ dấu hiệu xuất hiện nhiều nhất: ô tin nhắn, áo đồng phục, tem niêm phong, con dấu.

Khi nào điều này sai

Dấu hiệu cũ đã được nhận ra nhờ một chi tiết thì chi tiết ấy là tài sản (1.02); giữ nó ở bản chính và vẽ thêm bản rút gọn có quy định, đừng gọt bản chính cho vừa cỡ nhỏ. Thương hiệu sống ở chỗ dấu hiệu luôn hiện lớn, như công trình hay sản phẩm cao cấp đóng hộp lớn, thì cỡ nhỏ ít quyết định hơn, nhưng vật liệu khó vẫn quyết định.

Theo nó thì mất gì

Mất một phần chi tiết kể chuyện. Phải quản lý hai ba bản dấu hiệu theo cỡ, mỗi bản có quy định dùng ở đâu, và người giữ chuẩn phải biết bản nào đi với cỡ nào.

Nguồn

  • Tom Geismar, Sagi Haviv, Ivan Chermayeff, Identify: Basic Principles of Identity Design in the Iconic Trademarks of Chermayeff & Geismar, HOW Books, 2011

Dùng trong dịch vụThiết kế bộ nhận diện thương hiệu · Làm video và hoạt hình thương hiệu

Đọc tiếpLogo nên đơn giản tới đâu

Đứng trên 0.2 0.4Triển khai thành 8.04 8.08

8.04Phép nghềĐang kiểm chứng

Thử dấu hiệu ở bốn trạng thái trước khi duyệt: một màu, đảo âm dương, cỡ ảnh đại diện trong khung tròn, và trên vải thêu.

Gặp khiVòng duyệt dấu hiệu, trước buổi trình chốt.

Phép thử mang về

(1) Một màu: tô toàn bộ dấu hiệu bằng một màu đặc, không dải chuyển, không viền phụ. Nhận ra ngay thì đạt; phải nhờ màu mới nhận ra thì dấu hiệu sẽ chết trên con dấu, bản khắc, máy in nhiệt. (2) Đảo âm dương, tức đổi chỗ hình và nền: dấu hiệu trắng trên nền đen hay nền màu đặc. Khe hở có bị lấp không, mảng đặc có hoá thành lỗ khác nghĩa không. (3) Ảnh đại diện: đặt vào khung tròn, xem ở cỡ hiện thật trong danh sách tin nhắn trên điện thoại, cạnh vài ảnh đại diện khác. Dấu hiệu bị khung cắt góc, hay chỉ còn một vệt mờ, là hỏng. (4) Thêu: hỏi xưởng thêu bề rộng nét nhỏ nhất và khe hở nhỏ nhất họ làm được trên đúng loại vải sẽ dùng, đối chiếu với dấu hiệu ở cỡ thêu thật trên ngực áo; nét nào mảnh hơn, khe nào hẹp hơn là chỗ sẽ bị gộp hay bỏ. Tốt nhất là thêu thử một mẫu. Trạng thái nào hỏng thì sửa dáng hoặc vẽ bản rút gọn có quy định (8.01), không để xưởng tự gọt.

Đứng trên 8.01

8.08Phép nghềĐang kiểm chứng

Đặt dấu hiệu ứng viên cạnh dấu hiệu của những người cùng ngành, cùng cỡ, cùng một màu, rồi nhìn lướt xem có lẫn không.

Gặp khiTrước khi trình chốt dấu hiệu, nhất là khi dấu hiệu dùng một hình quen của ngành (lá cây, giọt nước, mái nhà, chữ cái đầu trong vòng tròn). Ví dụ giả định: một doanh nghiệp rau sạch chọn chiếc lá xanh trong vòng tròn, trong khi nửa số sạp cùng chợ đã dùng chiếc lá xanh.

Phép thử mang về

(1) Gom dấu hiệu của những doanh nghiệp bán cùng loại hàng, ở cùng chỗ bán (lấy từ bản đồ luật ngành của 2.03 nếu đã có). (2) Đưa tất cả về cùng cỡ nhỏ và cùng một màu đen, để chỉ còn dáng; màu được so riêng sau. (3) Xếp dấu hiệu ứng viên lẫn vào giữa, cho một người lạ nhìn vài giây rồi hỏi cái nào khác nhất và cái nào giống nhau. Ứng viên bị gọi là giống một dấu hiệu khác là hỏng, dù trên bản trình nó trông riêng. (4) Dấu hiệu định đăng ký nhãn hiệu thì tra thêm nhãn hiệu hình đã đăng ký trong cùng nhóm hàng; nhãn hiệu hình được xếp theo Bảng phân loại Viên (bảng quốc tế chia yếu tố hình của nhãn hiệu thành nhóm như lá, nhà, vòng tròn, lập theo Thoả ước Viên), nên tra theo nhóm hình (lá, nhà, vòng tròn) chứ không chỉ theo tên. Đánh giá khả năng nhầm lẫn về pháp lý là việc của người có chuyên môn sở hữu trí tuệ. Đạt: người lạ chỉ ra ứng viên là cái khác nhất.

Nguồn

Nguồn

  • WIPO, Vienna Agreement Establishing an International Classification of the Figurative Elements of Marks, 1973

Đứng trên 8.01

8.02Nguyên lýĐang kiểm chứng

Màu chỉ thành tài sản khi được dùng giống nhau rất nhiều lần; một màu dùng đều thắng năm màu dùng lẫn.

Gặp khiChốt hệ màu, làm ấn phẩm chiến dịch, mở dòng sản phẩm mới, và khi đội nội bộ muốn đổi màu cho đỡ chán.

Phân xử

Màu chủ là hằng số, xuất hiện ở cùng vai trò trên mọi điểm chạm; màu phụ đổi theo chiến dịch hay theo dòng được, miễn là không bao giờ đứng vào chỗ của màu chủ.

Lập luận đầy đủ

Hai điều đều tốt kéo ngược nhau

Nhiều màu cho ấn phẩm sinh động, chiến dịch nào cũng mới, mỗi dòng sản phẩm có màu riêng, đội nội bộ đỡ chán. Một màu chủ dùng đều thì gò ấn phẩm nhưng tích được nhận biết.

Vì sao đúng

Màu được mắt bắt từ xa và từ khoé mắt, trước cả khi đọc được chữ hay nhận ra hình. Nhưng màu tự nó không mang tên ai; nó chỉ gợi ra một thương hiệu khi người ta đã gặp màu ấy đi cùng thương hiệu ấy đủ nhiều lần (0.4). Mỗi lần thương hiệu xuất hiện bằng một màu khác là một lần mối liên tưởng bị chia ra. Năm màu dùng lẫn cho năm mối liên tưởng mỏng, và trong ngành mà đối thủ cũng dùng các màu ấy, không mối nào đủ dày để chỉ về một doanh nghiệp. Đội nội bộ chán màu rất lâu trước khi khách kịp nhớ nó, và cảm giác ấy không phải lý do để đổi (12.01).

Khi nào điều này sai

Kiến trúc thương hiệu nhiều dòng cần màu để khách tìm đúng hàng trên kệ (4.03, 4.07): khi ấy màu dòng làm việc tìm, màu chủ vẫn phải giữ một chỗ cố định trên mọi bao bì. Ngành mà một màu là vé vào cửa (2.01) thì màu ấy không phân biệt được ai, và tài sản phải tìm ở chỗ khác.

Theo nó thì mất gì

Ấn phẩm chiến dịch bị gò, người thiết kế ít đất chơi. Phải kiên nhẫn qua giai đoạn đội nội bộ thấy nhàm mà khách chưa kịp nhớ.

Nguồn

  • Jenni Romaniuk, Building Distinctive Brand Assets, Oxford University Press, 2018
  • Byron Sharp, How Brands Grow: What Marketers Don't Know, Oxford University Press, 2010

Dùng trong dịch vụThiết kế bộ nhận diện thương hiệu · Chụp ảnh sản phẩm và thương hiệu

Đọc tiếpMàu nền thiết kế và màu nhận diện: hai khái niệm không phải một

Đứng trên 0.4Triển khai thành 8.07

8.07Phép nghềĐang kiểm chứng

Quy định tỉ lệ dùng màu theo từng loại điểm chạm, để màu chủ chiếm phần nhận biết lớn nhất chứ không chỉ có mặt.

Gặp khiViết phần màu của cẩm nang, và rà lại khi thấy thương hiệu trông mỗi nơi một kiểu dù ai cũng dùng đúng mã màu.

Phép thử mang về

(1) Chụp hai mươi điểm chạm đang chạy: bài đăng, bao bì, biển, đồng phục, website, tài liệu bán hàng. (2) Xếp thành một lưới, thu nhỏ hoặc làm mờ ảnh cho tới khi không đọc được chữ. (3) Hỏi: màu nào nổi lên? Nếu đó là một màu phụ, hay mỗi ô một màu khác, thì nhận biết đang rơi vào màu phụ dù màu chủ vẫn có mặt đâu đó. (4) Viết quy định tỉ lệ cho từng loại điểm chạm, bằng ví dụ hình và bằng lời, nói màu chủ đứng ở vai trò nào (nền, mảng lớn, thanh nhận diện) và màu phụ được phép chiếm tới đâu. Đạt: lặp lại phép làm mờ ở lần rà theo quý (11.05), cả lưới ngả về một màu. Hỏng: quy định chỉ liệt kê mã màu mà không nói màu nào được nhiều đất nhất.

Đứng trên 8.02

8.03Nguyên lýĐang kiểm chứng

Màu thương hiệu là một đích kèm dải dung sai trên từng vật liệu, có một mẫu gốc để phân xử, không phải một mã trên màn hình.

Gặp khiChốt hệ màu, giao màu cho nhà in, xưởng biển, xưởng may, xưởng sơn, đội làm website; và khi hai điểm chạm đặt cạnh nhau mà màu lệch.

Phân xử

Không vật liệu nào khớp tuyệt đối được với vật liệu khác, nên việc của người thiết kế là định nghĩa đích, dung sai (độ lệch được chấp nhận) cho từng vật liệu, và vật liệu nào là gốc khi hai cái cãi nhau.

Lập luận đầy đủ

Hai điều đều tốt kéo ngược nhau

Khớp tuyệt đối thì thương hiệu trông chỉn chu, mọi nơi một màu. Chấp nhận dung sai thì làm được trên mọi vật liệu, nhanh và rẻ hơn.

Vì sao đúng

Màn hình phát ánh sáng từ ba màu; giấy, vải, sơn, nhựa thì phản xạ ánh sáng chiếu vào chúng. Cùng một công thức bốn màu (bốn mực in xanh lơ, cánh sen, vàng, đen, thường gọi CMYK) in trên giấy tráng phủ và giấy không tráng phủ đã cho hai màu, vì mực thấm khác nhau và giấy trắng khác nhau; chuẩn in offset ISO 12647-2 vì thế tách điều kiện in theo loại giấy. Vải nhuộm, sơn tường, mica, decal, đèn hộp có dải màu tái tạo được riêng của mình, tức tập hợp những màu vật liệu ấy làm ra được (cùng một màu đỏ in trên giấy bóng và giấy mờ đã ra hai màu đỏ), và nhiều màu tươi trên màn hình không tồn tại ở vật liệu nào. Rồi ánh sáng nơi xem đổi tiếp: hai mẫu khớp nhau dưới đèn này có thể lệch dưới đèn khác, nên ngành in so màu dưới nguồn sáng chuẩn, quy định trong ISO 3664:2025 về điều kiện xem. Mã màu trên màn hình vì thế chỉ là một lời mô tả, và nếu không có mẫu gốc cùng dung sai, mỗi xưởng sẽ tự chọn màu gần nhất mình làm được, mười xưởng ra mười màu.

Khi nào điều này sai

Thương hiệu chỉ sống trên màn hình thì không có vật liệu để giao, nhưng màn hình của khách cũng mỗi máy một kiểu, nên vẫn chỉ kiểm được trong một dải. Màu mang thông tin an toàn hay quy chuẩn của ngành đi theo quy chuẩn ấy, không theo cẩm nang thương hiệu.

Theo nó thì mất gì

Phải làm, ký duyệt và giữ gìn mẫu vật lý; tốn tiền in thử; và chấp nhận rằng đặt hai vật liệu sát nhau thì mắt tinh vẫn thấy lệch nhỏ.

Nguồn

  • ISO 3664:2025, Graphic technology and photography, Viewing conditions
  • ISO 12647-2:2013, Graphic technology, Process control for the production of half-tone colour separations, proof and production prints, Part 2: Offset lithographic processes (chỉ áp cho in offset)
  • CIE 142-2001, Improvement to industrial colour-difference evaluation

Dùng trong dịch vụThiết kế POSM và gian hàng sự kiện

Đọc tiếpKhoá bao nhiêu mã màu và ghi luật màu thế nào

Đứng trên 0.5Triển khai thành 8.05 8.06

8.05Phép nghềĐang kiểm chứng

Định nghĩa mỗi màu thương hiệu bằng một mẫu vật lý đã ký duyệt kèm mã riêng cho từng vật liệu sẽ dùng.

Gặp khiKhi viết phần màu của cẩm nang, và trước lần giao màu đầu tiên cho một xưởng mới.

Phép thử mang về

(1) Lập bảng: mỗi hàng một màu, mỗi cột một vật liệu thương hiệu thật sự dùng (giấy tráng phủ, giấy không tráng phủ, decal, vải, sơn, mica hay đèn hộp, màn hình). Mỗi ô ghi đúng loại mã của vật liệu ấy: công thức bốn màu theo điều kiện in, mã màu pha, mã sơn, mã màu màn hình. Ô trống là chỗ xưởng sẽ tự đoán. Đèn hộp và biển có đèn thì ghi màu ở cả lúc đèn tắt và lúc đèn bật, vì màu ánh sáng của đèn đổi màu chủ. (2) Với mỗi vật liệu chính, xin xưởng làm mẫu màu trên đúng vật liệu, so dưới cùng một nguồn sáng, ký và ghi ngày lên mẫu đạt; mẫu ấy là gốc khi có tranh cãi, không phải màn hình. (3) Ghi một vật liệu làm gốc cho cả hệ, để khi hai vật liệu không thể cùng khớp thì biết cái nào phải theo cái nào. (4) Cất mẫu trong bìa tối, ghi ngày làm; mẫu giấy và mẫu vải cũng phai và ngả màu theo thời gian, nên thay khi thấy khác với lần ký. Đạt: một xưởng mới chưa từng làm việc với thương hiệu làm ra màu trong dung sai ngay lần đầu, chỉ với bảng và mẫu. Hỏng: phải gửi ảnh chụp màn hình để giải thích màu.

Đọc tiếpVì sao phải kiểm màu mẫu in thật trước khi chạy số lượng

Đứng trên 8.03

8.06Phép nghềĐang kiểm chứng

Chọn màu và vật liệu ngoài trời theo sức chịu nắng, nóng và ẩm của nơi treo thật, không theo bản in thử xem trong phòng máy lạnh.

Gặp khiBiển hiệu, bạt, decal dán kính, mái che, xe giao hàng, bao bì trưng ngoài sạp; ở khí hậu nóng ẩm, nắng gắt, mùa mưa dài, vùng biển có hơi muối.

Phép thử mang về

(1) Hỏi xưởng ba câu bằng văn bản: mực hay sơn này dùng ngoài trời được không, có lớp cán hay phủ chống tia cực tím không, và nhà sản xuất vật liệu ghi độ bền ngoài trời trong điều kiện nào. Nhiều bảng thông số ghi độ bền theo vùng khí hậu, và vùng nắng nóng thường được ghi ngắn hơn; con số ghi cho xứ lạnh không áp được cho mặt tiền hướng tây ở đây. (2) Biết màu nào yếu: các màu tươi như đỏ, hồng, cam, vàng chanh và nhất là màu huỳnh quang thường bạc nhanh hơn đen, trắng và các màu sẫm trầm. Màu chủ thuộc nhóm yếu thì ghi sẵn lịch thay và ngân sách thay, hoặc chọn vật liệu có màu nằm trong chính chất liệu thay vì in lên bề mặt. (3) Màu sẫm hút nhiệt: tấm lớn màu sẫm phơi nắng dễ cong vênh và làm keo, decal bong sớm hơn; hỏi xưởng cách bắt vít, chừa khe giãn nở. (4) Treo một mẫu nhỏ ở đúng hướng nắng gắt nhất của điểm treo, cất một mẫu giống hệt trong tối; sau vài tháng đặt cạnh nhau mà so; mẫu treo thử ra từ đúng xưởng và đúng vật liệu sẽ làm loạt, như 10.05. Ẩm và hơi muối thì soi thêm mép tấm, chân vít, ron đèn hộp. Đạt: màu đã chọn biết trước mình sẽ đổi thế nào và có kế hoạch cho điều ấy. Hỏng: biển đã bạc mới biết màu chủ là màu yếu.

Dùng trong dịch vụThiết kế POSM và gian hàng sự kiện

Đọc tiếpVật liệu ngoài trời: chọn theo tuổi thọ thật

Đứng trên 8.03

Đem một điều về soi doanh nghiệp mình

Anh / Chị thấy doanh nghiệp mình đang đứng ở điều nào trong chương này, kể cho Sinh Vũ nghe. Sinh Vũ đọc cùng và nói thẳng chỗ nên làm trước.

Kể bài toán của mình
Về mục lục học thuyết