Tên là thứ duy nhất của thương hiệu đi được qua tai và miệng, không cần ai nhìn thấy gì. Lời là cách thương hiệu nói chuyện mỗi ngày, ở những chỗ không có người thiết kế đứng cạnh. Tiếng Việt đặt lên cả hai một đòi hỏi riêng. Chữ viết cách nhau từng tiếng, trong khi nghĩa nằm trong cả từ. Và mỗi câu chào khách đều buộc người nói chọn một quan hệ.
Đọc nhanh: câu tóm tắt, lúc hay gặp và việc Anh / Chị thử ngay. Đọc đủ mở thêm lập luận, khi nào không áp dụng và nguồn. Mỗi nguyên lý đứng trước các phép nghề đi theo nó, nên số điều không chạy liền nhau.
Chỉ đổi tên khi tên cũ cản một việc cụ thể, còn tên trông cũ thì làm mới hình, vì đổi tên là mất mọi điều khách nhớ gắn với tên.
Gặp khiKhi đặt tên cho doanh nghiệp hay dòng sản phẩm mới, và khi chủ doanh nghiệp muốn đổi tên cùng lúc làm lại nhận diện.
Nên chọn thế nào
Chỉ đổi tên khi nó chặn một việc cụ thể gọi ra được, không đổi vì nó trông cũ. Phần trông cũ thuộc về hình, và hình thì làm mới được mà không đụng tới tên. Xem thêm 1.08
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Giữ tên cũ thì giữ được mọi thứ đã gắn vào nó: lời truyền miệng, đánh giá trên mạng, giấy tờ, khách quen. Đổi tên thì gỡ được một cái tên đang cản đường: trùng với người khác, mang nghĩa xấu ở thị trường mới, hay quá hẹp khi doanh nghiệp làm thêm ngành khác.
Vì sao đúng
Hình và màu chỉ làm việc khi người ta nhìn thấy. Tên làm việc cả khi không ai nhìn thấy gì: khi khách giới thiệu cho người quen, khi gõ vào ô tìm kiếm, khi gọi điện đặt hàng. Mọi điều khách nhớ về doanh nghiệp đều gắn vào tên. Vì vậy tên là lớp móng, lớp đổi chậm nhất và đắt nhất của thương hiệu. Tên còn nằm ở những chỗ thiết kế không với tới: giấy đăng ký doanh nghiệp, con dấu, hoá đơn, hợp đồng, tài khoản ngân hàng, đơn đăng ký nhãn hiệu, tên miền. Đổi hình là sửa những gì khách thấy. Đổi tên là sửa cả những gì khách tìm, nói và ký. Mỗi chỗ chưa kịp sửa là một chỗ khách đi lạc sang một cái tên không còn ai trả lời. Xem thêm 6.01
Khi nào không áp dụng
Tên đang xâm phạm quyền của người khác, hay đang bị tranh chấp nhãn hiệu, thì phải đổi, dù khách đã quen tên ấy tới đâu. Hãy hỏi người có chuyên môn về sở hữu trí tuệ trước khi quyết. Doanh nghiệp mới chưa bán, chưa đăng ký thì đổi tên còn rẻ, và đó là lúc nên soát tên kỹ nhất. Xem thêm 7.04
Cái giá phải trả
Doanh nghiệp sống với một cái tên có khuyết điểm: hơi dài, hơi khó đọc, không còn khớp hết ngành hàng. Công làm mới phải dồn vào hình và lời, làm mới từng phần chứ không thay hẳn, màu chủ vẫn giữ. Việc ấy trông không nổi bằng một cái tên mới. Xem thêm 8.02
Nguồn
Al Ries và Jack Trout, Positioning: The Battle for Your Mind, McGraw-Hill, 1981, chương The power of the name
Jenni Romaniuk, Building Distinctive Brand Assets, Oxford University Press, 2018
Soát tên trước khi gắn bó với nó: đọc qua điện thoại, tra nhãn hiệu, tra tên doanh nghiệp và tên miền, hỏi nghĩa ở từng vùng miền.
Gặp khiKhi có danh sách tên ứng viên, trước khi trình chủ doanh nghiệp chọn và trước khi thiết kế bất cứ hình nào cho tên.
Anh / Chị thử ngay
Làm từ bước ít tốn công nhất đến bước tốn công nhất. Tên bị loại ở bước nào thì dừng ở bước ấy. Tra cứu tự làm chỉ để loại sớm. Tên định đăng ký thì nhờ người có chuyên môn sở hữu trí tuệ đánh giá khả năng bảo hộ trước khi đầu tư vào hình.
Đọc tên qua điện thoại cho ba người ở ba miền, nhờ họ viết lại.
Đếm số cách viết. Tên có dấu hỏi và dấu ngã, có cặp tr và ch, s và x, l và n, hay có vần dễ lẫn sẽ bị viết lại nhiều cách. Tức là khách sẽ tìm tên ấy theo nhiều cách.
Hỏi người ở từng vùng xem tên có gợi nghĩa nào khác, nhất là nghĩa tục hay nghĩa xui. Hỏi cả người ở thị trường nước ngoài nếu định bán sang. Bản không dấu thì soát riêng. Xem thêm 9.10
Tra cơ sở dữ liệu nhãn hiệu của Cục Sở hữu trí tuệ, ở đúng nhóm hàng hoá, dịch vụ sẽ đăng ký. Tìm cả tên giống và tên gần giống về âm.
Tra tên doanh nghiệp trên cổng đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Tra tên miền và tên tài khoản trên các mạng xã hội sẽ dùng.
Đạt: tên qua được mọi bước mà không cần giải thích.
Chưa đạt: mỗi lần nói tên phải kèm câu "viết là thế này".
Chữ Việt viết cách nhau từng tiếng nhưng nghĩa nằm trong cả từ, nên khi xuống dòng, rút gọn hay viết tắt phải giữ nguyên từ.
Gặp khiKhi dàn tiêu đề, khẩu hiệu, tên sản phẩm trên bao bì và website, khi đặt giới hạn ký tự cho tên hiển thị, khi rút gọn tên dài hay đặt tên viết tắt.
Nên chọn thế nào
Ở tên, tiêu đề, khẩu hiệu và mọi chỗ chữ ít mà nặng, hình thức nhường cho nghĩa. Ở văn bản dài cỡ chữ đọc, để máy ngắt dòng tự nhiên.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Một bên là sự linh hoạt của chữ Việt. Tiếng nào cũng cách nhau một dấu cách, nên dòng chữ cắt được ở bất kỳ đâu: lề đều, khung gọn, phần mềm nước ngoài xử lý được mà không cần chỉnh. Một bên là nghĩa. Nhiều từ thường dùng gồm hai tiếng trở lên, và tách hai tiếng ấy ra là để mỗi tiếng đứng một mình với một nghĩa khác.
Vì sao đúng
Tiếng Anh dùng dấu cách để đánh dấu ranh giới từ, nên phần mềm coi mỗi khoảng trắng là chỗ được phép cắt. Tiếng Việt dùng dấu cách để tách tiếng, nên cùng cách cắt ấy rơi vào giữa từ. Nguyễn Tài Cẩn (1975) coi tiếng là đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt. Mỗi tiếng vừa là một đơn vị đọc, ông gọi là âm tiết, vừa là một hình vị, tức đơn vị nhỏ nhất mang nghĩa. Cuốn sách của ông đặt từ ghép thành một phần riêng ngay sau tiếng. Từ ghép là chỗ hai ba tiếng kết thành một đơn vị, và nghĩa của nó thường không chia đều cho từng tiếng. "Thương hiệu" không phải là "thương" cộng với "hiệu". Dòng tiêu đề kết bằng "thương", dòng sau mở bằng "hiệu": người đọc lướt nhận nghĩa từ dòng đầu trước, và "thương" đứng một mình là một chữ khác. Chuyện ấy cũng xảy ra khi sàn thương mại điện tử cắt tên sản phẩm dài thành ba chấm. Nó xảy ra khi ô tên tài khoản chỉ cho một số ký tự, và khi người ta lấy chữ cái đầu của từng tiếng làm tên viết tắt. Lỗi không nằm ở phần mềm. Lỗi nằm ở chỗ không ai báo cho phần mềm biết từ bắt đầu và kết thúc ở đâu.
Khi nào không áp dụng
Với văn bản dài ở cỡ chữ đọc, người đọc đọc từng câu chứ không lướt từng dòng. Ép giữ từ khắp nơi làm lề phải răng cưa và khoảng trắng loang lổ, mất nhiều hơn được. Tên vay mượn hay tên tự đặt viết liền thì không có ranh giới tiếng để mà giữ.
Cái giá phải trả
Người dàn trang phải dàn tiêu đề bằng tay hoặc dặn máy, và đôi khi phải viết lại câu cho vừa khung thay vì để chữ tự rơi. Giới hạn ký tự của hệ thống phải đặt theo tên dài nhất có thật, không theo con số mặc định.
Nguồn
Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng, từ ghép, đoản ngữ, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1975
Unicode Standard Annex #14, Unicode Line Breaking Algorithm
Dòng nào kết bằng tiếng đầu của một từ hai tiếng, như "thương / hiệu" hay "doanh / nghiệp", là dòng đang đổi nghĩa, không chỉ xấu.
Đọc từng dòng của tiêu đề như một câu riêng.
Giữ từ trên ấn phẩm in bằng lệnh không ngắt của phần mềm dàn trang.
Để trình duyệt tự cân dòng tiêu đề trên website.
Dùng khoảng trắng không ngắt, tức dấu cách dán hai tiếng lại để trình duyệt không xuống dòng ở đó, chỉ cho tên riêng và từ ghép ngắn. Rải khắp nơi thì tiêu đề tràn khung trên điện thoại.
Kiểm lại ở bề ngang điện thoại và ở khổ in thật.
Đạt: không dòng nào kết bằng nửa một từ, và không ô chữ nào tràn khung.
Chưa đạt: phải sửa tay từng tiêu đề sau khi trang đã lên, hoặc chỉ thấy lỗi khi khách chụp màn hình gửi lại.
Chỉ dùng tên viết tắt khi bản viết tắt đọc thành tiếng được theo một cách duy nhất, hoặc khách đã tự gọi như thế.
Gặp khiKhi tên doanh nghiệp dài nhiều tiếng và chủ doanh nghiệp muốn một bản gọn cho logo, tên miền hay biển hiệu.
Anh / Chị thử ngay
Viết bản viết tắt ra giấy, đưa năm người chưa biết doanh nghiệp đọc to.
Đếm số cách đọc. Chữ cái tiếng Việt có nhiều cách đọc, như "bê" hay "bờ", "đê" hay "đờ", lại có người đọc theo tên chữ cái tiếng Anh. Năm người đọc ra hai ba cách thì khách sẽ gọi doanh nghiệp bằng hai ba cái tên.
Hỏi họ bản ấy là viết tắt của gì. Không ai đoán được thì nghĩa đã mất hết, và bản viết tắt phải tự gây dựng từ đầu như một tên mới.
Đếm xem chuỗi chữ cái ấy đang được bao nhiêu doanh nghiệp khác dùng, tra như bước tra nhãn hiệu. Chuỗi hai ba chữ cái thường đã có nhiều người đăng ký, nên khó phân biệt và khó bảo hộ. Xem thêm 7.04
Kiểm xem cách cắt có tách đôi một từ không, nếu viết tắt theo từng tiếng. Xem thêm 7.02
Đạt: chỉ có một cách đọc, hoặc đúng cái tên khách đã quen gọi.
Chưa đạt: phải in kèm tên đầy đủ ở mọi nơi để người ta hiểu bản viết tắt.
Giọng thương hiệu tiếng Việt bắt đầu từ cách xưng hô, vì trong tiếng Việt chọn đại từ là chọn quan hệ: ai lớn, ai nhỏ, gần hay xa.
Gặp khiKhi viết cẩm nang ngôn từ, tức tài liệu dặn cách thương hiệu nói chuyện, khi viết kịch bản trả lời khách, lời trên website, bao bì, tin nhắn và tổng đài. Điểm chạm ở đây là mọi chỗ khách gặp thương hiệu.
Nên chọn thế nào
Chọn theo quan hệ thương hiệu giữ được ở điểm chạm khó nhất, thường là lúc khách đang bực. Đừng chọn theo điểm chạm dễ nhất là lúc quảng cáo.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Xưng hô gần, như "anh chị" và "em", thì ấm và có tình, hợp lúc chào hàng. Xưng hô xa, như "quý khách" và "chúng tôi", thì an toàn với mọi tuổi, hợp với giấy tờ và lúc giải quyết khiếu nại.
Vì sao đúng
Tiếng Việt gọi người đối thoại phần lớn bằng từ chỉ quan hệ họ hàng, kể cả khi hai bên không họ hàng gì. Mỗi từ ấy nói sẵn ai lớn tuổi hơn, ai ở vai trên (Lương Văn Hy, 1990). Tiếng Anh có một từ cho người nghe. Tiếng Việt buộc người nói chọn một vai trước khi nói câu đầu tiên. Vì vậy giọng thương hiệu không bắt đầu từ tính từ trong cẩm nang, mà từ cặp xưng hô. Chọn "em" là nhận vai nhỏ và hứa sự chiều chuộng. Chọn "quý khách" là giữ khoảng cách và hứa sự chuẩn mực. Chọn một cặp ngang hàng là hứa sự thân, và chấp nhận có người thấy suồng sã. Cặp xưng hô đặt sai thì tính từ nào cũng không cứu được. Một lời xin lỗi rất đúng giọng mà gọi khách bằng vai không hợp tuổi vẫn bị đọc thành xúc phạm. Cặp ấy cũng phải khớp hai đầu. Gọi khách một kiểu mà tự xưng theo một quan hệ khác thì câu nào cũng lệch.
Khi nào không áp dụng
Văn bản pháp lý, hợp đồng, hoá đơn có văn phong riêng (bên A, bên B, khách hàng), nên giọng thương hiệu không kéo vào đó. Thương hiệu bán cho một nhóm tuổi rất hẹp và đồng đều thì xưng hô gần ít rủi ro hơn.
Cái giá phải trả
Mỗi cặp xưng hô đóng lại một số cửa. Chọn gần thì mất một phần khách lớn tuổi hay khách tổ chức. Chọn xa thì mất độ ấm. Nhân viên phải học lại cách nói, và người mới vào sẽ trôi về thói quen riêng nếu không có quy định viết ra. Xem thêm 7.07
Nguồn
Lương Văn Hy (Hy Van Luong), Discursive Practices and Linguistic Meanings: The Vietnamese System of Person Reference, John Benjamins, 1990
Viết một trang quy định xưng hô cho từng điểm chạm, để nhân viên mới trả lời một tin khiếu nại đúng giọng mà không phải hỏi ai.
Gặp khiSau khi chốt giọng, trước khi giao cẩm nang ngôn từ cho đội bán hàng, chăm sóc khách và người viết nội dung.
Anh / Chị thử ngay
Lập bảng một trang, mỗi hàng một điểm chạm: biển và bao bì, website, bài đăng, tin nhắn, tổng đài, thư, hoá đơn, trả lời khiếu nại.
Ghi các cột cho mỗi hàng: gọi khách là gì, tự xưng là gì, chưa biết tuổi và giới thì gọi thế nào. Thêm một cột ghi khi khách tự xưng khác thì theo khách hay giữ quy định, và một cột những từ cấm.
Viết hai câu mẫu cho mỗi hàng: một câu vui như chào, cảm ơn, và một câu khó như từ chối, xin lỗi.
Đưa bảng cho một người chưa đọc cẩm nang. Nhờ họ trả lời ba tin nhắn giả định của khách đang bực.
Đạt: ba câu trả lời dùng cùng một cặp xưng hô và đúng hàng tương ứng.
Chưa đạt: người viết phải hỏi lại, hoặc đổi cách gọi giữa chừng một cuộc trò chuyện.
Lời bán hàng dùng chữ của người mua, vì người mua tìm, nhớ và kể về hàng bằng chữ của chính họ, không bằng chữ doanh nghiệp tự đặt.
Gặp khiKhi viết lời giới thiệu sản phẩm, tiêu đề trang chủ, mô tả hàng trên sàn, kịch bản bán hàng, khẩu hiệu. Và khi doanh nghiệp thấy lời mình đúng mà khách đọc xong vẫn hỏi lại.
Nên chọn thế nào
Lời bán, mô tả hàng, tiêu đề và mọi chỗ người mua đang tìm thì dùng chữ của người mua. Chữ riêng chỉ đặt ở một hai chỗ thương hiệu cần sở hữu một ý, như khẩu hiệu hay tên một dòng hàng. Chữ riêng ấy phải đứng cạnh chữ của người mua cho tới khi họ tự dùng nó.
Đọc kỹ lập luận
Hai cái đúng phải cân
Chữ của người mua được hiểu ngay, khớp với chữ họ gõ vào ô tìm kiếm và chữ họ dùng khi giới thiệu cho người quen. Chữ riêng của thương hiệu thì phân biệt được, sở hữu được, và dẫn được người mua tới một cách nghĩ mới về hàng.
Vì sao đúng
Thương hiệu là điều người ngoài nhớ và tin. Trí nhớ ấy được gọi ra bằng những tình huống, nỗi lo, nhu cầu mà người mua tự gọi tên trong đầu. Chẳng hạn: con bị ho về đêm, quà biếu sếp dịp Tết, áo mặc đi làm không cần ủi, nước mắm để kho cá. Tác giả Jenni Romaniuk gọi đó là các điểm vào của loại hàng, tức những lúc người ta bắt đầu nghĩ tới việc mua một loại hàng. Thương hiệu được nghĩ tới khi nó gắn được vào những lúc ấy. Chữ doanh nghiệp tự đặt, như "giải pháp toàn diện", "trải nghiệm vượt trội", không khớp với lúc nào khách thật sự nghĩ tới việc mua, nên đọc xong không đọng lại gì. Người mua để ý rất ít. Câu dùng đúng chữ họ đang nghĩ được hiểu trong một lần lướt, còn câu phải dịch lại thì bị lướt qua. Nghề viết quảng cáo đã biến việc gom nguyên văn lời khách để viết thành phương pháp. Joanna Wiebe gọi đó là nghiên cứu lời khách. Riêng tiếng Việt có ba điều thêm. Chữ khách khác theo miền, như heo hay lợn, bắp hay ngô. Khách hay gõ tìm không dấu. Và khi chữ ấy thành câu nói với khách, nó kéo theo một cặp xưng hô. Xem thêm 0.1, 0.2, 7.03
Khi nào không áp dụng
Sản phẩm thuộc một loại hàng hoàn toàn mới thì người mua chưa có chữ để gọi nó, và thương hiệu buộc phải đặt chữ. Khi ấy dùng chữ của người mua cho nỗi lo và lý do mua, còn chữ gọi tên hàng do thương hiệu đặt. Thương hiệu cố ý dời định vị thì chữ quen của khách cũ có thể kéo nó về chỗ cũ. Khách gọi cả loại hàng bằng tên hãng dẫn đầu thì không dùng chữ ấy. Chữ khách nói chưa chắc doanh nghiệp được phép dùng trong quảng cáo, nhất là công dụng chữa bệnh hay cam kết hiệu quả. Chỗ ấy theo pháp luật của ngành, không theo lời khách. Xem thêm 2.05
Cái giá phải trả
Lời nghe kém bay bổng, gần với lời thường ngày, và có khi giống lời của đối thủ cùng lắng nghe một nhóm khách. Doanh nghiệp phải bỏ công gom chữ khách, và gom lại khi khách đổi cách nói, thay vì viết một lần từ bàn làm việc.
Nguồn
Jenni Romaniuk, Better Brand Health: Measures and Metrics for a How Brands Grow World, Oxford University Press, 2023
Joanna Wiebe, Copyhackers, các bài hướng dẫn phương pháp nghiên cứu lời khách (voice-of-customer research), copyhackers.com
Đặt lời bán cạnh danh sách chữ khách đã nói, rồi viết lại những chữ khách chưa từng dùng thành chữ khách vẫn nói, trừ chữ riêng thương hiệu cố ý giữ.
Gặp khiKhi viết khẩu hiệu, lời giới thiệu sản phẩm, tiêu đề trang chủ, kịch bản bán hàng.
Anh / Chị thử ngay
Phép này chỉ dùng từ ngữ của khách, nên không cần trích ai. Trích nguyên văn lời một khách kèm tên hay ảnh thì khác. Việc ấy theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (Luật 91/2025/QH15) và văn bản hướng dẫn, cùng quy định về quyền đối với hình ảnh của Bộ luật Dân sự. Dùng hình ảnh của người khác cho mục đích thương mại thì mặc định còn phải trả thù lao, trừ khi hai bên thoả thuận khác.
Gom chữ khách đã nói: đánh giá trên mạng, tin nhắn hỏi hàng, ghi chép của người bán hàng tuyến đầu. Xem thêm 2.07
Gạch dưới những từ khách dùng để gọi sản phẩm, gọi nỗi lo và gọi lý do mua.
Đặt lời bán, tiêu đề, mô tả hàng đang dùng cạnh danh sách ấy. Từ nào không xuất hiện lần nào trong lời khách là từ của doanh nghiệp, không phải của người mua.
Viết lại bằng từ của khách, giữ cặp xưng hô đã chốt. Xem thêm 7.07
Giữ trong khẩu hiệu và câu định vị nhiều nhất một chữ riêng, phần còn lại vẫn là chữ khách. Các ngoại lệ khác theo phần giới hạn của nguyên lý về chữ người mua. Xem thêm 7.11
Xin phép người khách trước khi trích nguyên văn lời họ kèm tên hay ảnh. Nên xin bằng văn bản hoặc tin nhắn lưu được, ghi rõ dùng ở đâu và trong bao lâu.
Hỏi người có chuyên môn trước khi đưa vào quảng cáo lời khách nói về công dụng của thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ hay khám chữa bệnh. Những lời ấy còn bị pháp luật chuyên ngành hạn chế. Xem thêm 2.05
Đạt: đọc câu mới cho một khách quen nghe, họ gật mà không phải hỏi nghĩa.
Chưa đạt: câu đẹp mà khách phải dịch lại nghĩa.
Nguồn
Nguồn
Joanna Wiebe, Copyhackers, các bài hướng dẫn phương pháp nghiên cứu lời khách (voice-of-customer research), copyhackers.com
Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, Điều 32 (quyền của cá nhân đối với hình ảnh)