Ngôn ngữ của tên thương hiệu không phải chuyện thẩm mỹ, đó là quyết định thị trường.
Chọn ngôn ngữ của tên nên bám vào thị trường mục tiêu và khả năng phát âm của khách, không theo cảm giác cho sang. Nếu khách chính là người Việt và câu chuyện gắn bản địa thì tên tiếng Việt thuần thường dễ nhớ và dễ chạm cảm xúc hơn; nếu nhắm xuất khẩu hoặc thị trường quốc tế ngay từ đầu thì tên trung tính về ngôn ngữ hoặc dễ đọc bằng tiếng Anh sẽ đi xa hơn. Điều bắt buộc ở cả hai hướng là tên phải đọc đúng và không mang nghĩa xấu ở những ngôn ngữ mình định phục vụ. Với tên tiếng Việt còn một câu hỏi nữa: bỏ dấu là trao đi một phần nghĩa, nên chỉ bỏ khi có lý do ghi thành văn.
Câu hỏi này rất thường gặp, và thường đi kèm một lý do quen thuộc: "Tên tiếng Anh nghe sang hơn." Đó là lý do sai để đưa ra quyết định đúng. Ngôn ngữ của tên thương hiệu không phải lựa chọn thẩm mỹ, đó là lựa chọn về người nghe, về thị trường, về khả năng tên đó tồn tại trong đầu khách sau lần đầu tiếp xúc.
Câu hỏi cần hỏi trước tiên không phải "tên nào đẹp hơn" mà là "khách của mình là ai, họ nghe và nói ngôn ngữ nào trong cuộc sống hàng ngày." Nếu khách chính là người Việt, mua hàng tại Việt Nam, và câu chuyện thương hiệu gắn với bản sắc bản địa, thì tên tiếng Việt thuần thường có lợi thế rõ: dễ nhớ, dễ đọc, dễ truyền miệng, và tạo cảm giác gần gũi mà tên ngoại khó có được tự nhiên.
Ngược lại, nếu Anh / Chị nhắm xuất khẩu, gọi vốn quốc tế, hoặc hoạt động trong ngành mà khách hàng đã quen với tên quốc tế, thì tên trung tính về ngôn ngữ hoặc dễ đọc bằng tiếng Anh sẽ giảm ma sát khi bước ra ngoài. Lộ trình mở rộng sau này cũng cần tính vào: tên đặt hôm nay sẽ đi với thương hiệu ít nhất năm đến mười năm.
Marty Neumeier, tác giả cuốn The Brand Gap, đặt ra bộ tiêu chí để đánh giá sức mạnh của tên thương hiệu, trong đó có một nguyên tắc cốt lõi: tên phải dễ đánh vần và dễ phát âm với chính tệp khách nghe thấy nó. Biến cái tên thành cuộc thi chính tả là gây rối cho khách, không phải tạo ấn tượng.
Điều này áp dụng cho cả hai hướng. Tên tiếng Anh mà khách Việt không đọc được sẽ bị méo tiếng qua truyền miệng. Tên tiếng Việt có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã mà khách nước ngoài không đọc được sẽ bị đơn giản hoá tuỳ tiện khi họ tìm kiếm. Cả hai đều là vấn đề thực tế, không phải lý thuyết.
Tên tiếng Việt thuần phù hợp khi: khách chính là người Việt, câu chuyện thương hiệu gắn bản địa, và Anh / Chị muốn tạo sự khác biệt trong ngành đang đông đặc tên ngoại. Lợi thế cạnh tranh ở đây thực sự có, vì vùng tên tiếng Anh chung chung trong nhiều ngành đã chật.
Tên tiếng Anh hoặc trung tính ngôn ngữ phù hợp khi: nhắm xuất khẩu, gọi vốn quốc tế, hoặc ngành mà khách trong nước cũng đã quen dùng tên quốc tế như tên mặc định.
Tên lai, đọc được cả hai thứ tiếng là lựa chọn cho thương hiệu vừa phục vụ nội địa vừa dự tính vươn ra ngoài. Nhưng cần kiểm tra thực tế với cả hai nhóm khách, vì tên lai dễ rơi vào vùng mơ hồ: không đủ gần gũi với người Việt, không đủ tự nhiên với người nước ngoài.
Tên tiếng Việt kéo theo một câu hỏi nữa. Bỏ dấu cho dễ đăng ký tên miền hay cho hình chữ gọn là trao đi một phần nghĩa, vì một tên không dấu có thể ứng với nhiều tên có dấu. Phân xử bằng câu hỏi ai là người đọc chính trong năm năm tới, không bằng câu hỏi bản nào trông sạch hơn.
Cái giá của việc giữ dấu là phải sống với hai bản tên: bản có dấu cho người đọc, bản không dấu cho tên miền, tài khoản và những hệ thống không gõ được dấu. Nếu có bỏ dấu ở chữ thương hiệu, nên ghi lý do thành văn và giữ tên đủ dấu ở mọi chỗ người ta đọc chữ. Tên có vần oa, oe, uy còn phải chốt một lần kiểu đặt dấu (hoà hay hòa). Tên đã đăng ký thì giữ đúng cách viết của chủ tên.
Tên phải dễ đánh vần và dễ phát âm với chính tệp khách nghe thấy nó. Biến cái tên thành cuộc thi chính tả là gây rối cho khách.
Marty Neumeier, Strong vs Weak Names
Tóm lại: hỏi "ai sẽ nghe tên này, họ đọc được không, và nghĩa của nó với họ là gì" trước khi hỏi "nghe có sang không." Việc khẳng định một tên ngoại an toàn về nghĩa và phát âm ở thị trường sở tại cần người bản ngữ và tra cứu chuyên biệt theo vùng.
Chủ đề: Đặt tên tiếng Việt hay tiếng Anh: dựa vào đâu để quyết. Cẩm nang Sinh Vũ, sinhvu.com
Bấm chọn từng mục Anh / Chị thấy đúng, rồi bấm in hoặc lưu thành PDF để mang theo.
Nếu Anh / Chị đánh dấu phần lớn ở nhóm dấu hiệu trên, đây là lúc nên trao đổi kỹ hơn. Sinh Vũ có thể cùng Anh / Chị soi lại và đề xuất hướng đi.
Marty Neumeier, Strong vs Weak Names. Catchword, Linguistic & Cultural Analysis. Kinh nghiệm thực hành của Sinh Vũ.
Không nhất thiết. Tên tiếng Anh chỉ trông chuyên nghiệp nếu khách đọc được và hiểu đúng. Nếu khách Việt đọc sai, viết sai, hoặc phải hỏi lại thì tên đó đang gây ma sát thay vì tạo ấn tượng. Chuyên nghiệp đến từ sự nhất quán và rõ ràng, không đến từ ngôn ngữ của tên.
Có thể bất lợi nếu tên chứa dấu hoặc cấu trúc tiếng khó đọc với người nước ngoài. Nhưng bỏ dấu chỉ cho gọn hình chữ là trao đi một phần nghĩa, vì một tên không dấu có thể ứng với nhiều tên có dấu. Cách thường dùng là giữ tên có dấu ở mọi chỗ người ta đọc chữ, và quy định sẵn một bản không dấu cho tên miền, tài khoản. Quan trọng hơn là kiểm tra phát âm và nghĩa của tên qua người bản ngữ ở thị trường đích trước khi chốt.
Tên lai hợp lý khi thương hiệu phục vụ đồng thời hai thị trường và không muốn hy sinh cái nào. Nhưng cần cẩn thận: tên lai dễ rơi vào vùng mơ hồ, không gần gũi với người Việt mà cũng không tự nhiên với người nước ngoài. Hãy kiểm tra thực tế với cả hai nhóm khách trước khi quyết định.
Bài viết là thông tin tham khảo. Phạm vi, giá và cam kết cụ thể của Sinh Vũ ghi trong hồ sơ đề xuất và hợp đồng đã ký.