Phụ thuộc một khách lớn không phải lỗi của ai. Nhưng ở lại đó mà không có gì để chống đỡ thì là một lựa chọn.
Công ty B2B dồn phần lớn doanh thu vào một khách hàng cần xây thương hiệu độc lập vì hai lý do thực tế: thương hiệu có nhận diện rõ giúp tiếp cận khách hàng mới mà không phụ thuộc vào lời giới thiệu từ khách cũ, và khi ngồi vào bàn đàm phán, bên nào có vị thế thị trường rõ ràng hơn sẽ ít bị ép giá hơn. Đây không phải bài toán thiết kế, đây là bài toán sống còn của doanh nghiệp.
Nhiều công ty B2B rơi vào tình huống này theo cách rất tự nhiên: một khách lớn tìm đến, hài lòng, giới thiệu thêm việc, rồi dần chiếm phần lớn doanh thu. Không ai lên kế hoạch để điều đó xảy ra. Nhưng khi 70% doanh thu đến từ một nguồn, cấu trúc rủi ro đã thay đổi hoàn toàn, dù bảng lợi nhuận vẫn trông ổn.
Bài này nói về một câu hỏi mà nhiều giám đốc B2B biết là cấp thiết nhưng thường để sau: làm thế nào để xây thương hiệu độc lập khi mọi nguồn lực đang tập trung phục vụ khách hiện tại?
Phụ thuộc một khách lớn không chỉ là rủi ro doanh thu. Nó thay đổi quyền lực đàm phán theo cách mà cả hai bên đều cảm nhận được, dù không ai nói ra.
Michael Porter mô tả quyền lực của người mua là một trong năm lực lượng định hình lợi nhuận ngành. Khi một khách hàng chiếm tỷ trọng đủ lớn trong doanh thu của nhà cung cấp, họ có quyền yêu cầu giá thấp hơn, điều khoản thanh toán dài hơn, ưu tiên trong lịch sản xuất, và nhiều thứ khác. Nhà cung cấp khó từ chối vì chi phí mất khách đó là quá lớn.
Điều này không có nghĩa là khách hàng đó xấu tính. Họ chỉ đang dùng vị thế của mình, như bất kỳ doanh nghiệp nào cũng làm. Vấn đề nằm ở chỗ Anh / Chị chưa có gì để cân bằng lại thế đó.
Khi Anh / Chị có thương hiệu độc lập với nhận diện rõ ràng trên thị trường, có khách hàng khác biết đến và tìm đến, thì cuộc đàm phán với khách lớn trở nên khác. Không phải vì Anh / Chị trở nên hung hăng hơn, mà vì cả hai bên đều biết Anh / Chị có phương án khác.
Phương án B không cần chiếm 50% doanh thu để có tác dụng. Ngay khi nó là thật và khách lớn biết điều đó, cán cân đàm phán đã dịch chuyển. Đây là lý do các công ty tư vấn lớn vẫn duy trì hoạt động marketing dù không thiếu việc: để không bao giờ hoàn toàn phụ thuộc vào bất kỳ nguồn nào.
Thương hiệu không phải là logo. Thương hiệu là cảm nhận của khách hàng về Anh / Chị.
Marty Neumeier, The Brand Gap
Vấn đề là khi mọi nguồn lực đang tập trung phục vụ một khách, thương hiệu hướng ra thị trường bên ngoài thường không được đầu tư. Kết quả là công ty làm tốt nhưng không ai biết. Cơ hội đến chủ yếu qua lời giới thiệu từ khách hiện tại. Mà khách hiện tại giới thiệu theo kiểu nào, Anh / Chị nhận được khách theo kiểu đó.
Không phải lúc nào cũng dễ thấy thương hiệu đang thiếu sức mạnh độc lập. Nhưng có ba dấu hiệu thường gặp ở các công ty B2B trong tình huống này.
Câu hỏi thực tế nhất mà các giám đốc B2B thường đặt ra là: bắt đầu từ đâu khi toàn bộ đội đang bận chạy dự án cho khách hiện tại?
Sinh Vũ quan sát thấy một trình tự hiệu quả hơn so với việc cố làm mọi thứ cùng lúc. Trước hết, làm rõ định vị trước khi làm bất kỳ thứ gì về nhận diện. Định vị ở đây không phải là câu tagline hay tuyên ngôn sứ mệnh. Đó là câu trả lời rõ ràng cho ba câu hỏi: Anh / Chị phục vụ ai cụ thể, giải quyết vấn đề gì mà họ đang gặp, và tại sao Anh / Chị làm việc đó tốt hơn các lựa chọn khác họ có. Khi ba câu này có câu trả lời nhất quán, mọi thứ tiếp theo sẽ dễ hơn.
Bước tiếp theo là kiểm tra xem câu trả lời đó có đang được thể hiện ra ngoài một cách nhất quán chưa, trên trang web, trong tài liệu gửi khách tiềm năng, và trong cách đội ngũ giới thiệu công ty. Sự không nhất quán ở đây không phải lỗi thẩm mỹ, đó là tín hiệu cho thị trường rằng công ty chưa tự biết mình là ai.
Một lo ngại mà Sinh Vũ thường nghe: nếu xây thương hiệu độc lập và tìm khách hàng mới, liệu khách lớn kia có cảm thấy bị coi nhẹ không?
Lo ngại này hiểu được nhưng xuất phát từ một cách nhìn sai. Xây thương hiệu độc lập không có nghĩa là giảm chất lượng phục vụ khách hiện tại. Nó có nghĩa là công ty trở nên đủ mạnh để phục vụ nhiều bên, thay vì phụ thuộc vào một bên. Một nhà cung cấp có nhiều lựa chọn vẫn là nhà cung cấp tốt hơn, vì họ không đặt tất cả trứng vào một giỏ và cũng không ở thế phải đồng ý với mọi yêu cầu để giữ mối quan hệ.
Thực ra, từ góc độ quản lý rủi ro, khách lớn cũng không nên muốn nhà cung cấp của mình hoàn toàn phụ thuộc vào họ. Nhà cung cấp phụ thuộc một chiều là nhà cung cấp dễ sụp đổ nếu hợp đồng thay đổi, và điều đó không có lợi cho bên nào.
Câu trả lời không phải là "khi đã ổn định hơn" hay "khi có ngân sách dư". Thương hiệu tích lũy theo thời gian, không tạo ra kết quả ngay lập tức. Nếu hôm nay 70% doanh thu đến từ một khách và Anh / Chị muốn tình huống đó thay đổi trong hai năm tới, thì công việc cần bắt đầu từ hôm nay.
Dấu hiệu cho thấy đã sẵn sàng bắt đầu: Anh / Chị đã có đủ hiểu biết về khách hàng mục tiêu tiếp theo để mô tả họ cụ thể, không phải chung chung. Định vị không cần hoàn hảo ngay từ đầu, nhưng cần đủ rõ để hướng dẫn những lựa chọn tiếp theo. Và quan trọng nhất, cần có quyết tâm duy trì sự nhất quán theo thời gian, vì đó là cách duy nhất thương hiệu tích lũy giá trị thật sự.
Marty Neumeier, The Brand Gap. Byron Sharp, How Brands Grow. McKinsey & Company, The Business Value of Design, 2018. Kantar BrandZ, ~2020. Willy Shih & Gary Pisano, Restoring American Competitiveness, Harvard Business Review, 2009 (về rủi ro phụ thuộc nhà cung cấp đơn). Porter, Competitive Strategy, về quyền lực đàm phán người mua.
Làm ăn tốt hôm nay không có nghĩa là vị thế đàm phán của Anh / Chị được bảo vệ. Khi khách lớn chiếm 70% doanh thu, họ biết rằng Anh / Chị khó từ chối bất kỳ yêu cầu nào. Thương hiệu độc lập có nhận diện rõ ràng trên thị trường sẽ tạo ra một phương án B thật sự, và phương án B đó thay đổi cách cả hai bên ngồi vào bàn đàm phán.
Không có con số cố định vì phụ thuộc vào ngành và mức độ nhận diện hiện tại. Nhưng có một nguyên tắc đáng nhớ: thương hiệu tích lũy theo thời gian, không tạo ra kết quả tức thì. Bắt đầu sớm hơn một năm so với khi Anh / Chị thật sự cần nó là khoảng cách an toàn tối thiểu. Chờ đến khi khách lớn gây áp lực mới bắt đầu là đã trễ.
Nên, nhưng làm đúng phần. Với ngân sách hạn chế, ưu tiên trước là làm rõ định vị: Anh / Chị phục vụ ai, giải quyết vấn đề gì, khác đối thủ ở điểm nào. Phần nhận diện thị giác làm sau khi định vị đã chắc. Một định vị sắc nét với nhận diện đơn giản còn có giá trị hơn nhiều so với bộ nhận diện đẹp nhưng không ai biết Anh / Chị là ai.