Góc nhìn · Ngành Mỹ phẩm

Influencer đẩy được doanh số, nhưng không xây được ký ức

Local brand mỹ phẩm Việt đang trả tiền để được nhớ đến hôm nay, rồi bị quên ngay ngày mai.

Chốt nhanh

Influencer tạo ra lượt tiếp cận và chuyển đổi ngắn hạn, nhưng không tạo ra ký ức thương hiệu độc lập. Khi ngân sách KOL dừng lại, nhận diện cũng dừng theo vì thương hiệu chưa từng sở hữu một tài sản nhận diện nào trong đầu khách hàng. Lối thoát không nằm ở việc chọn KOL tốt hơn mà nằm ở việc xây dựng hệ thống nhận diện có thể tự đứng vững.

Sinh Vũ quan sát một vòng lặp lặp đi lặp lại trong ngành mỹ phẩm nội địa: brand ra mắt, đổ ngân sách vào KOL, doanh số tăng vọt trong vài tuần, rồi lặng im. Đổ thêm ngân sách, lại có doanh số. Dừng lại, lại lặng im. Đến một lúc, ngân sách không còn đủ để duy trì nhịp đó nữa. Brand biến mất, không phải vì sản phẩm kém mà vì chưa bao giờ xây được bất cứ thứ gì trong đầu khách hàng.

Cơ chế của một lần mua

Khi một KOL review sản phẩm, điều xảy ra trong đầu người xem không phải là "mình cần ghi nhớ brand này". Điều xảy ra là "chị này đáng tin, lọ này trông có vẻ ổn, mình thử xem sao". Quyết định mua được neo vào uy tín của người review, không phải vào thương hiệu. Khách nhớ "lọ serum chị X giới thiệu", không nhớ tên brand trên hộp.

Byron Sharp gọi đây là vấn đề của Mental Availability: khả năng một thương hiệu xuất hiện trong đầu khách hàng đúng lúc họ có nhu cầu mua. Mental Availability không được xây bởi người khác thay cho thương hiệu. Nó được xây bằng cách lặp lại nhất quán các tín hiệu nhận diện độc đáo, đủ lâu để để lại dấu vết trong trí nhớ. KOL tạo ra lượt tiếp cận. Lặp lại nhất quán mới tạo ra ký ức.

80%Tỷ lệ sản phẩm mỹ phẩm mới thất bại trong vòng 12 tháng đầu. Nguồn: ước tính ngành được trích dẫn rộng rãi trong báo cáo Nielsen về hàng tiêu dùng nhanh.

Vì sao local brand dễ sa bẫy

Rào cản gia nhập ngành mỹ phẩm Việt gần như bằng không. Một nhà máy gia công, một lọ đựng từ nhà cung cấp Trung Quốc, một file thiết kế thuê ngoài giá rẻ: sản phẩm ra đời trong vài tuần. Kết quả là thị trường tràn ngập những lọ serum, kem dưỡng trông na ná nhau, không có tín hiệu nhận diện nào đủ mạnh để phân biệt. Trong bối cảnh đó, KOL trở thành con đường ngắn nhất để tạo ra sự khác biệt tức thời vì uy tín cá nhân của họ che phủ sự giống nhau của sản phẩm.

Nhưng đây chính là bẫy. Thương hiệu đang đi vay uy tín thay vì xây uy tín. Mỗi đồng chi cho KOL là đồng tiền làm cho khuôn mặt của họ đáng nhớ hơn, không phải làm cho thương hiệu đáng nhớ hơn. Khi ngân sách cạn, khuôn mặt đó đi tiếp với thương hiệu khác. Thương hiệu ở lại với tay trắng.

Hơn 1,3 tỷ USDGiá trị mỹ phẩm nhập khẩu vào Việt Nam, tăng 17% theo dữ liệu Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương. Hàng nội địa chiếm chưa đến 10% thị phần, cho thấy áp lực cạnh tranh mà local brand đang đối mặt.

Influencer marketing không sai, cách dùng mới sai

Sinh Vũ không cho rằng KOL là kẻ thù của thương hiệu. Vấn đề nằm ở thứ tự: phần lớn local brand dùng KOL trước khi có nền móng nhận diện, thay vì sau khi đã có. Khi thương hiệu chưa sở hữu một tài sản nhận diện nào riêng, màu sắc đặc trưng, ngôn ngữ nhất quán, câu chuyện không thể sao chép, thì KOL chỉ là máy bơm doanh số nhất thời. Khi thương hiệu đã có nền móng đó rồi, KOL mới trở thành kênh khuếch đại thực sự.

Cocoon là ví dụ đáng nghiên cứu. Họ xây câu chuyện nguồn gốc nguyên liệu vùng miền Việt Nam, đạt chứng nhận Leaping Bunny và PETA trước khi phủ sóng KOL rộng. Khi KOL nói về Cocoon, họ đang khuếch đại những thứ đã tồn tại và có thể kiểm chứng. Khách mua không chỉ vì khuôn mặt trên video mà vì câu chuyện sau lọ sản phẩm đó có sức nặng riêng.

Distinctive assets chỉ tạo ra Mental Availability khi được lặp lại nhất quán đủ lâu để hình thành dấu vết trong trí nhớ.

Jenni Romaniuk, Building Distinctive Brand Assets (Ehrenberg-Bass Institute)

Tài sản nhận diện là thứ thuộc về Anh / Chị

Jenni Romaniuk định nghĩa Distinctive Brand Assets qua hai chiều: Fame (mức độ phổ biến) và Uniqueness (mức độ độc nhất). Một tài sản nhận diện thực sự phải đạt cả hai. Màu cam của Hermès là tài sản. Màu xanh pastel không tên trên hộp kem dưỡng của Anh / Chị thì không phải, vì nó không độc nhất và chưa đủ phổ biến để neo vào trí nhớ của ai.

Tài sản nhận diện có thể là màu sắc, hình dạng bao bì, ngôn ngữ thương hiệu, mùi hương đặc trưng, hoặc câu chuyện nguồn gốc không thể sao chép. Điểm chung: chúng thuộc về thương hiệu, không thuộc về người nào đang cầm điện thoại review lúc này. Khi đầu tư xây dựng và lặp lại những tài sản này nhất quán qua mọi điểm chạm, bao bì, web, kênh mạng xã hội, ngôn ngữ chăm sóc khách hàng, thương hiệu bắt đầu tích lũy ký ức trong đầu khách mà không cần ai làm thay.

38%Mức giá cao hơn mà khách hàng sẵn sàng trả cho thương hiệu được đánh giá là "meaningful và different" so với đối thủ cùng phân khúc. Nguồn: Kantar BrandZ, khoảng 2020.

Con đường thoát: xây trước, khuếch đại sau

Với một local brand mỹ phẩm đang trong vòng lặp phụ thuộc KOL, câu hỏi thực tế không phải là "dừng dùng KOL không?". Câu hỏi là: "Nếu tất cả kênh KOL dừng lại ngay hôm nay, thương hiệu còn lại gì trong đầu khách hàng?"

Nếu câu trả lời là "không nhiều", đó là dấu hiệu rõ ràng rằng ngân sách đang chảy vào một cái xô thủng đáy. Mỗi chiến dịch KOL mang lại lượt mua nhưng không để lại gì cộng dồn. Lối thoát là dừng phân bổ toàn bộ ngân sách marketing vào kênh khuếch đại, dành một phần xây dựng những tài sản nhận diện có thể tích lũy theo thời gian. Không cần dừng KOL. Cần song song đầu tư vào những thứ sẽ còn đó sau khi KOL cuối cùng kết thúc hợp đồng.

  • Xác định một đến hai tài sản nhận diện đặc trưng và cam kết lặp lại nhất quán.
  • Xây câu chuyện nguồn gốc hoặc quan điểm thương hiệu không thể bị sao chép bởi đối thủ.
  • Đảm bảo bao bì, ngôn ngữ, và hành vi thương hiệu nhất quán qua mọi điểm chạm, không chỉ trong clip KOL.
  • Đo lường không chỉ doanh số chiến dịch mà còn mức độ nhận diện tự nhiên của thương hiệu theo thời gian.
Ghi chú về số liệu: Con số 80% sản phẩm mỹ phẩm mới thất bại trong 12 tháng được trích dẫn rộng rãi trong các báo cáo ngành và thường quy về nghiên cứu Nielsen về hàng tiêu dùng nhanh. Không có một báo cáo công bố duy nhất có thể xác minh con số này áp dụng riêng cho mỹ phẩm Việt Nam. Sinh Vũ trích dùng con số này như chỉ báo định hướng về mức độ rủi ro, không phải thống kê chính xác của thị trường nội địa.

Nguồn tham khảo

Byron Sharp, How Brands Grow (Ehrenberg-Bass Institute). Jenni Romaniuk, Building Distinctive Brand Assets. McKinsey & Company, The Business Value of Design, 2018. Kantar BrandZ ~2020. Số liệu ngành mỹ phẩm Việt Nam: Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương.

Câu hỏi thường gặp

Local brand mỹ phẩm Việt có nên dùng KOL không?

KOL là công cụ khuếch đại, không phải nền móng thương hiệu. Dùng KOL hiệu quả khi thương hiệu đã có bản sắc nhận diện rõ ràng: màu sắc, ngôn ngữ, câu chuyện riêng. Khi đó, KOL khuếch đại những thứ đã tồn tại. Ngược lại, nếu chưa có nền móng, KOL chỉ mua lượt xem chứ không tích lũy gì cho thương hiệu.

Tại sao khách mua qua KOL nhưng không quay lại mua lần hai?

Vì quyết định mua lần đầu được neo vào uy tín của KOL, không phải ký ức về thương hiệu. Khách nhớ 'lọ serum chị X review' chứ không nhớ tên brand. Lần hai, chị X review lọ khác, khách mua lọ khác. Đây là vấn đề thuộc về Mental Availability (khả năng hiện diện trong tâm trí khách khi họ có nhu cầu), và KOL không xây được thứ đó thay thương hiệu.

Phải bắt đầu từ đâu nếu muốn thoát khỏi vòng lặp phụ thuộc KOL?

Bắt đầu bằng câu hỏi: nếu tất cả logo và tên thương hiệu bị xóa khỏi bao bì, khách có còn nhận ra sản phẩm của Anh / Chị không? Nếu không, thương hiệu chưa sở hữu tài sản nhận diện nào. Bước tiếp theo là xác định một hoặc hai tài sản nhận diện đặc trưng (màu sắc, hình dạng, ngôn ngữ, câu chuyện nguồn gốc) rồi đầu tư lặp lại nhất quán qua mọi điểm chạm, kể cả khi không có KOL.

← Về Góc nhìn