Bộ nhớ dài hạn của con người lưu trữ thông qua cấu trúc âm thanh và hình ảnh khái niệm, không phải qua nội dung mô tả. Tên thương hiệu ngắn, lạ, phát âm trơn sẽ tạo dấu ấn phân biệt rõ trong mạng lưới liên tưởng. Tên mô tả chức năng thì phải cạnh tranh trực tiếp với hàng trăm từ ngữ tương tự và không để lại neo riêng biệt. Đó là lý do những cái tên như Apple, Nike hay Vinamilk bền hơn nhiều so với tên dạng ‘Công ty Giải Pháp Tốt Nhất’.
Trong bài này · 5 phần
Khi chủ doanh nghiệp đặt tên công ty, phần lớn chọn hướng mô tả: ghép tên ngành, ghép chức năng, ghép lợi ích. Nghe có lý. Nhưng bộ nhớ con người không vận hành theo logic đó. Nó lưu theo hình dạng âm thanh, theo nhịp phát âm, theo mức độ khác lạ so với những thứ đã biết. Hiểu sai điều này ngay từ bước đặt tên là bắt đầu một cuộc chiến truyền thông mà doanh nghiệp tự tạo ra cho chính mình.
Bộ nhớ dài hạn không lưu mô tả
Có hai tầng bộ nhớ liên quan đến tên thương hiệu. Bộ nhớ ngắn hạn xử lý ngôn ngữ theo nghĩa: “Công ty Vật Liệu Xây Dựng Miền Nam” được hiểu ngay. Nhưng bộ nhớ dài hạn, phần quyết định khách có nhớ đến Anh / Chị hay không sau sáu tháng, hoạt động khác. Nó lưu trữ thông qua mạng lưới liên tưởng. Một cái tên trở thành nút neo trong mạng đó nhờ có hình dạng âm thanh đặc trưng, dễ bật lại trong đầu mỗi khi gặp điều gì liên quan.
Nhà tâm lý học Endel Tulving phân biệt bộ nhớ ngữ nghĩa (lưu ý nghĩa) và bộ nhớ episodic (lưu trải nghiệm cụ thể). Tên thương hiệu hiệu quả hoạt động ở cả hai tầng: âm thanh kích hoạt bộ nhớ ngữ nghĩa, còn mỗi lần tiếp xúc với thương hiệu đó tích dần vào bộ nhớ episodic. Tên mô tả chức năng gần như chỉ đánh vào tầng ngữ nghĩa, nơi nó phải cạnh tranh với hàng trăm từ ngữ tương tự mà não bộ đã lưu sẵn.
Một thương hiệu không phải là logo. Nó là cảm nhận trong ruột của khách hàng về một sản phẩm, dịch vụ hoặc tổ chức.
Marty Neumeier, The Brand Gap
Vì sao tên lạ lại dễ nhớ hơn
Trong ngôn ngữ học nhận thức, hiện tượng “processing fluency” (sự trôi chảy xử lý) mô tả mức độ dễ dàng não bộ giải mã một đầu vào. Nghiên cứu của Reber, Schwarz và Winkielman (2004, thuộc dòng nghiên cứu về cognitive fluency trong tâm lý học xã hội) cho thấy: khi não xử lý một thứ trôi chảy, nó gán cho thứ đó cảm giác quen thuộc và tích cực. Tên phát âm mượt mà, có nhịp rõ ràng, hưởng lợi từ điều này.
Nhưng có một nghịch lý: tên quá quen, quá mô tả, lại bị não xếp vào nền và bỏ qua. Bộ nhớ ưu tiên những thứ hơi khác thường, đủ lạ để bật ra khỏi nền. Các nhà nghiên cứu gọi đây là “von Restorff effect” hay isolation effect: vật thể khác biệt trong một chuỗi đồng nhất sẽ được nhớ tốt hơn. Tên “Kova”, “Biti’s”, “Baemin” kích hoạt hiệu ứng này. Tên “Công Ty Sơn Chất Lượng Cao Miền Bắc” không có cơ hội.
Tên mô tả có một vấn đề cấu trúc
Khi Anh / Chị đặt tên mô tả, Anh / Chị dùng từ ngữ mà đối thủ cũng có thể dùng. “Nhanh”, “tốt”, “uy tín”, “chất lượng” là những tính từ ngành nào cũng dán lên bảng hiệu. Trong bộ nhớ khách hàng, những từ này không gắn riêng với Anh / Chị. Chúng thuộc về toàn bộ danh mục sản phẩm, không phải thương hiệu cụ thể.
Byron Sharp và Jenni Romaniuk tại Ehrenberg-Bass Institute đo tài sản nhận diện thương hiệu bằng công thức Fame nhân Uniqueness (mức độ nổi tiếng nhân tính độc quyền). Một tên mô tả có thể đạt Fame nếu chi đủ tiền quảng cáo, nhưng Uniqueness thường thấp vì từ ngữ đó không thuộc độc quyền liên tưởng của thương hiệu. Kết quả: cùng ngân sách, tên mô tả tích luỹ giá trị thương hiệu chậm hơn đáng kể.
Âm thanh là tài sản đầu tiên
Trước khi logo được nhìn thấy, trước khi slogan được đọc, tên được nghe. Trong môi trường truyền miệng, podcast, cuộc điện thoại, tên thương hiệu tồn tại thuần tuý dưới dạng âm thanh. Đây là lý do các thương hiệu mạnh thường có đặc tính âm vị học rõ ràng: phụ âm bật (K, B, T), nguyên âm mở, nhịp hai hoặc ba âm tiết cân xứng.
Cấu trúc âm thanh đó không phải tình cờ. “Coca-Cola” có sự lặp lại âm “ko” tạo nhịp đôi. “Vinamilk” kết hợp gốc địa danh với hậu tố ngắn phát âm rõ. “Bitis” (nay là Biti’s) tạo cảm giác gọn, dứt khoát. Những tên này dễ nói trong câu, dễ nhắn tin, dễ hashtag. Mỗi lần được dùng tự nhiên trong hội thoại là một lần tích điểm bộ nhớ mà không tốn chi phí truyền thông.
Positioning là việc Anh / Chị làm với tâm trí khách hàng, không phải với sản phẩm.
Al Ries & Jack Trout, Positioning: The Battle for Your Mind
Khi nào tên mô tả vẫn có vai trò
Không phải mọi tên mô tả đều sai trong mọi ngữ cảnh. Giai đoạn khởi động, đặc biệt khi ngân sách hạn chế và cần giải thích ngay danh mục sản phẩm cho khách chưa biết, tên mô tả giúp giảm tải nhận thức ban đầu. Đây là lợi thế có thật.
Vấn đề xuất hiện khi doanh nghiệp giữ tên mô tả mãi sau khi thương hiệu đã có quy mô. Lúc này chi phí để “sở hữu” một từ ngữ mà cả ngành dùng chung trở nên cực kỳ tốn kém, về cả tiền quảng cáo lẫn công sức xây liên tưởng độc quyền. Đây là thời điểm nhiều thương hiệu Việt bắt đầu nhận ra mình đang vác một cái tên ngược chiều với chiến lược tăng trưởng.
Tên thương hiệu là quyết định có vòng đời dài nhất trong toàn bộ hệ thống nhận diện. Logo có thể làm mới, màu sắc có thể điều chỉnh, slogan có thể thay. Tên, một khi đã bén rễ vào bộ nhớ khách hàng và vào văn bản pháp lý, thay đổi sẽ tốn kém theo cấp số nhân. Đầu tư thật sự cho tên là đầu tư từ lúc chưa có gì để mất. Đừng đợi đến khi đã vận hành năm năm rồi mới thấy tên mình không còn phù hợp với quy mô mới.
Nguồn tham khảo
Byron Sharp, How Brands Grow (Oxford University Press, 2010). Jenni Romaniuk & Byron Sharp, How Brands Grow Part 2 (Oxford University Press, 2016). Marty Neumeier, The Brand Gap (New Riders, 2003). Al Ries & Jack Trout, Positioning: The Battle for Your Mind (McGraw-Hill, 1981). Daniel Schacter, The Seven Sins of Memory (Houghton Mifflin, 2001). Endel Tulving, nghiên cứu về bộ nhớ ngữ nghĩa và bộ nhớ thủ tục (tổng hợp trong Elements of Episodic Memory, 1983).
