Góc nhìn · Ngành Tài chính

Khi người bán là kênh: thương hiệu bảo hiểm vẫn làm việc

Đại lý chốt đơn, nhưng thương hiệu quyết định ai được phép vào phòng khách.

Chốt nhanh

Bảo hiểm nhân thọ bán qua đại lý không có nghĩa là thương hiệu công ty vô nghĩa. Thương hiệu không thay thế đại lý nhưng nó quyết định khách có chịu ngồi nghe hay không, và quyết định khách có ở lại sau năm đầu. Khi sản phẩm vô hình và hợp đồng kéo dài 20 năm, niềm tin vào công ty đứng sau mới là thứ giữ người.

Bảo hiểm nhân thọ là một trong số ít ngành mà khách hàng không chủ động đi tìm sản phẩm. Họ không lướt kệ, không so giá trên website, không tự đặt mua lúc nửa đêm. Họ mua vì một người quen gọi điện, hoặc vì người thân giới thiệu đại lý. Khi kênh bán là con người, nhiều người nghĩ thương hiệu công ty trở nên thứ yếu. Đây là nhận định sai ở chỗ quan trọng nhất.

Thương hiệu không thay thế đại lý, nó mở cửa trước

Đại lý gõ cửa. Nhưng thứ quyết định cánh cửa có mở hay không lại là câu hỏi khách đặt ra trong đầu trước cuộc gặp: "Công ty này tôi từng nghe chưa? Có uy tín không?" Nếu tên công ty gợi lên cảm giác mơ hồ hoặc không gợi lên gì cả, đại lý phải dành phần lớn thời gian cuộc hẹn đầu để chứng minh sự tồn tại thay vì giải thích giá trị sản phẩm.

Đây là cơ chế mà Byron Sharp gọi là mental availability, tức là khả năng được nhớ đến khi nhu cầu xuất hiện. Với bảo hiểm, "nhu cầu" không phải lúc khách chủ động muốn mua. Nhu cầu xuất hiện khi đại lý gọi điện, khi bạn bè kể chuyện gia đình có sự cố, khi đọc tin về tai nạn. Ở những khoảnh khắc đó, công ty nào đã in sẵn trong đầu khách sẽ được tin trước.

38%Mức giá cao hơn mà khách hàng sẵn sàng trả cho thương hiệu được đánh giá là "có ý nghĩa và khác biệt". Nguồn: Kantar BrandZ, khoảng 2020.

Sản phẩm vô hình thì người bán hữu hình

Không có cách nào thử trước bảo hiểm nhân thọ. Khách không cầm, không mặc, không dùng thử. Họ ký một tờ giấy và bắt đầu trả tiền hàng tháng cho một cam kết sẽ xảy ra trong tương lai, hoặc không bao giờ xảy ra. Đây là giao dịch đòi hỏi niềm tin ở mức cao nhất.

Trong bối cảnh đó, đại lý trở thành bằng chứng hữu hình đầu tiên của thương hiệu. Cách đại lý ăn mặc, cách trình bày tài liệu, cách họ trả lời khi khách hỏi về điều khoản loại trừ, tất cả phản chiếu lại hình ảnh công ty. Nếu thương hiệu công ty không có bộ nhận diện rõ ràng, không có tiêu chuẩn tài liệu bán hàng, không có ngôn ngữ nhất quán về giá trị, thì mỗi đại lý tự xây một phiên bản thương hiệu riêng. Kết quả là cùng một công ty nhưng mỗi khách nhận được một trải nghiệm khác nhau.

Thương hiệu là cảm nhận của khách hàng, không phải logo. Mọi thứ công ty làm đều định hình cảm nhận đó.

Marty Neumeier, The Brand Gap

Năm đầu: đại lý giữ khách. Từ năm hai trở đi: thương hiệu giữ khách

Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đối mặt với tỷ lệ hủy hợp đồng sau năm đầu ở mức đáng chú ý. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam ghi nhận đây là một trong những thách thức cấu trúc của ngành trong giai đoạn 2022 đến 2024, sau giai đoạn tăng trưởng nóng nhờ bancassurance.

Nguyên nhân phổ biến nhất là kỳ vọng lúc mua vênh với thực tế lúc dùng. Đại lý cam kết theo một cách, hợp đồng viết theo cách khác, quy trình giải quyết quyền lợi lại diễn ra theo cách thứ ba. Sau năm đầu, khi mối quan hệ cá nhân với đại lý nhạt dần, thứ giữ khách ở lại chỉ còn là niềm tin vào công ty đứng sau. Nếu thương hiệu không xây được niềm tin đó một cách độc lập, không lệ thuộc hoàn toàn vào cá nhân đại lý, hợp đồng năm hai rất dễ bị bỏ.

85% / 30%85% tổ chức có tài liệu nhận diện thương hiệu, nhưng chỉ khoảng 30% thực thi nhất quán trên thực tế. Nguồn: Marq (Lucidpress), 2021.
Số liệu về tỷ lệ hủy hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam được Cục Quản lý và Giám sát Bảo hiểm cùng Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam ghi nhận định kỳ nhưng không công bố thành một con số thống nhất. Bài này dùng nhận định định tính từ báo cáo ngành thay vì trích một tỷ lệ cụ thể để tránh nhầm lẫn ngữ cảnh.

Đại lý cũng lựa chọn công ty

Điểm thường bị bỏ qua: đại lý bảo hiểm không bị cột chặt vào một công ty. Đại lý giỏi có thể làm việc với nhiều công ty hoặc dịch chuyển khi có điều kiện tốt hơn. Khi tuyển đại lý chất lượng cao, thương hiệu công ty trở thành yếu tố cạnh tranh không khác gì tuyển dụng nhân sự cấp cao.

Đại lý giỏi muốn bán sản phẩm của công ty mà họ không phải mất công bào chữa. Họ muốn tài liệu rõ ràng, thông điệp nhất quán, và tên công ty đủ nặng để khách không hỏi thêm "Công ty này lớn không?" Ngược lại, nếu thương hiệu mờ nhạt hoặc bị liên kết với tin tức tiêu cực, đại lý phải gánh thêm phần việc đáng lý công ty đã làm từ trước.

Ba thứ thương hiệu cần làm trong ngành này

Với đặc thù kênh bán là người, thương hiệu bảo hiểm nhân thọ cần tập trung vào ba điều cụ thể.

  • Nhận diện nhất quán trên mọi tài liệu đại lý dùng: tờ rơi, slide thuyết trình, hợp đồng mẫu, email theo dõi sau cuộc hẹn. Khi đại lý là điểm tiếp xúc chính, mọi vật phẩm họ mang theo đều là mặt tiền của thương hiệu.
  • Ngôn ngữ thương hiệu rõ ràng về giá trị thật. Không phải mô tả sản phẩm kỹ thuật, mà là câu trả lời cho câu hỏi mà khách hàng thật sự đặt ra: "Tại sao tôi nên tin công ty này sẽ còn ở đó sau 20 năm?"
  • Bằng chứng công khai và có thể kiểm chứng: trường hợp giải quyết quyền lợi thật, tỷ lệ thanh toán, thời gian xử lý hồ sơ. Những con số này, khi được trình bày minh bạch, làm được việc mà lời đại lý không thể làm một mình.
50 mili-giâyThời gian não bộ hình thành ấn tượng thị giác đầu tiên về một thương hiệu. Nguồn: Lindgaard et al., Behaviour & Information Technology, 2006.

Thương hiệu và đại lý: cùng hướng, không thay thế nhau

Thương hiệu công ty và đại lý giỏi không cạnh tranh nhau. Họ làm việc theo hai lớp khác nhau. Đại lý tiếp xúc trực tiếp, xây dựng quan hệ cá nhân, và chốt giao dịch. Thương hiệu công ty thiết lập nền tin cậy trước khi đại lý gặp mặt, và giữ khách ở lại sau khi mối quan hệ cá nhân nhạt dần.

Công ty nào chỉ đầu tư vào đào tạo đại lý mà bỏ qua thương hiệu đang để đại lý chiến đấu một mình ở vòng đầu. Công ty nào chỉ làm thương hiệu mà không có đại lý đủ năng lực thì thương hiệu cũng không đến được tay khách. Cả hai cần đi cùng nhau, và thứ nối hai lớp đó lại là sự nhất quán: cùng ngôn ngữ, cùng hình ảnh, cùng cam kết từ quảng cáo đến lúc khách gọi đến tổng đài năm thứ mười lăm của hợp đồng.

Nguồn tham khảo

Marty Neumeier, The Brand Gap. Byron Sharp, How Brands Grow. Kantar BrandZ 2020. Swiss Re Institute, World Insurance Report 2023. Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV), báo cáo thị trường 2024.

Câu hỏi thường gặp

Đại lý đã bán hàng rồi, công ty bảo hiểm có cần đầu tư thương hiệu nữa không?

Cần. Thương hiệu công ty là thứ đại lý mang ra khi khách hỏi 'Công ty này uy tín không?' Nếu câu trả lời phụ thuộc hoàn toàn vào lời đại lý, công ty đang để toàn bộ rủi ro tín nhiệm lên một người. Thương hiệu mạnh giúp đại lý chốt nhanh hơn và giúp khách ở lại sau năm đầu.

Tại sao nhiều người mua bảo hiểm xong lại bỏ hợp đồng sau năm đầu?

Phần lớn do kỳ vọng lúc mua vênh với thực tế lúc dùng. Đại lý cam kết một kiểu, quy trình giải quyết quyền lợi lại diễn ra theo cách khác. Thương hiệu nhất quán từ quảng cáo đến dịch vụ sau bán giúp thu hẹp khoảng cách đó. Khi khách tin vào công ty đứng sau, họ ít có lý do bỏ hợp đồng hơn.

Thương hiệu bảo hiểm nên truyền thông thế nào khi sản phẩm vô hình và phức tạp?

Không cố giải thích sản phẩm. Thay vào đó, truyền thông vào kết quả cảm nhận được: sự an tâm, sự bảo vệ gia đình, hành động có trách nhiệm. Hình ảnh nhận diện nhất quán và bằng chứng thực tế như trường hợp giải quyết quyền lợi thật sẽ thuyết phục hơn bất kỳ bảng so sánh sản phẩm nào.

← Về Góc nhìn