Dữ liệu 1.400 chiến dịch từ IPA Databank chỉ ra một tỷ lệ mà hầu hết doanh nghiệp vừa bỏ qua, vừa vi phạm mỗi quý.
Theo nghiên cứu của Les Binet và Peter Field trên cơ sở dữ liệu IPA Databank gồm hơn 1.400 chiến dịch, tỷ lệ tối ưu là 60% ngân sách dành cho xây dựng thương hiệu dài hạn và 40% cho kích hoạt bán hàng ngắn hạn. Hai hoạt động này không thay thế nhau mà bổ sung: thương hiệu mở rộng thị trường tiềm năng, còn kích hoạt chuyển đổi thị trường đó thành doanh thu. Doanh nghiệp chỉ chạy kích hoạt sẽ thấy hiệu quả giảm dần vì thị trường tiềm năng bị thu hẹp dần.
Quy tắc 60/40 của Les Binet và Peter Field không phải lý thuyết từ giảng đường. Đó là kết quả phân tích hơn 1.400 chiến dịch marketing trong cơ sở dữ liệu IPA Databank của Anh, tích lũy qua nhiều thập kỷ. Kết luận: doanh nghiệp đạt hiệu quả tài chính tốt nhất khi dành khoảng 60% ngân sách marketing cho xây dựng thương hiệu dài hạn và 40% cho kích hoạt bán hàng ngắn hạn. Tỷ lệ này không phải công thức cố định, nhưng nó chỉ ra một sai lệch mà phần lớn doanh nghiệp đang mắc phải theo chiều ngược lại.
Binet và Field phân biệt rõ hai loại hoạt động marketing. Kích hoạt bán hàng, hay brand activation, nhắm vào người đang có nhu cầu ngay lúc này: chạy ads có call-to-action, khuyến mãi, retargeting (tiếp thị lại với người đã ghé thăm). Hiệu quả xuất hiện nhanh, đo được ngay, nhưng tắt cũng nhanh khi ngừng chi. Xây dựng thương hiệu, hay brand building, nhắm vào số đông chưa có nhu cầu mua ngay: tạo liên kết cảm xúc, củng cố nhận diện, khiến thương hiệu là cái tên đầu tiên người ta nghĩ đến khi nhu cầu phát sinh. Hiệu quả tích lũy chậm, khó quy đổi trực tiếp ra đơn hàng tuần này, nhưng tồn tại lâu dài và kéo chi phí kích hoạt về thấp hơn theo thời gian.
Vấn đề là hai loại này thường bị đo bằng cùng một thước ngắn hạn. Khi bảng điều khiển chỉ hiển thị ROAS (tỷ suất chi tiêu quảng cáo) theo tuần, hoạt động xây thương hiệu trông như lãng phí. Đó là lý do hầu hết ngân sách dồn về phía kích hoạt.
Byron Sharp và nhóm nghiên cứu Ehrenberg-Bass mô tả điều này bằng khái niệm mental availability, tức sự hiện diện trong trí nhớ của người mua khi nhu cầu phát sinh. Thị trường tiềm năng của mỗi thương hiệu bao gồm cả những người chưa nghĩ đến sản phẩm hôm nay. Kích hoạt bán hàng chỉ chuyển đổi được phần thị trường đã sẵn sàng mua, tức là phần nhỏ hơn nhiều.
Nếu không có gì nuôi dưỡng phần còn lại, thị trường tiềm năng thu hẹp dần. Doanh nghiệp vẫn chi ngân sách như cũ nhưng nhắm vào ao ngày càng nhỏ hơn. Triệu chứng thực tế: chi phí mỗi đơn hàng tăng qua từng quý dù không thay đổi gì về chiến thuật. Đây không phải thuật toán thay đổi mà là hậu quả của việc bỏ đói thương hiệu.
Đây là điểm mà nhiều tài liệu marketing bỏ qua. Binet và Field chỉ ra rằng thương hiệu được xây dựng tốt làm cho mỗi đồng kích hoạt trở nên hiệu quả hơn, vì người ta chuyển đổi dễ hơn với thương hiệu họ đã nhận ra và có cảm tình. Nói cách khác, hai phần không cạnh tranh ngân sách mà bổ sung nhau: phần 60 mở rộng thị trường tiềm năng, phần 40 thu hoạch từ thị trường đó.
Kantar BrandZ ghi nhận rằng thương hiệu được đánh giá là có ý nghĩa và khác biệt có thể thu giá cao hơn đến 38% so với mặt bằng ngành. Điều đó có nghĩa kích hoạt trên nền thương hiệu mạnh không chỉ bán được nhiều hơn mà còn bán với biên lợi nhuận tốt hơn.
Các thương hiệu tăng trưởng bằng cách tiếp cận tất cả người mua trong ngành hàng, không chỉ những người đang sẵn sàng mua ngay hôm nay.
Byron Sharp, How Brands Grow, Oxford University Press, 2010
Binet và Field tự thừa nhận tỷ lệ này có thể thay đổi tùy theo ngành, chu kỳ mua, và giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Một số điều chỉnh có cơ sở dữ liệu:
Điều quan trọng không phải là chạm đúng con số 60 hay 40, mà là có hai khoản riêng biệt, đo bằng thước khác nhau, với mục tiêu khác nhau, và không dùng hiệu suất ngắn hạn của cái này để biện hộ cho việc cắt cái kia.
Vấn đề thực tế không phải là thiếu kiến thức về 60/40. Vấn đề là hệ thống đo lường nội bộ ở phần lớn doanh nghiệp được thiết kế để thưởng kích hoạt và phạt thương hiệu. Khi mọi cuộc họp bắt đầu bằng bảng ROAS, CPA (chi phí mỗi hành động), hay tỷ lệ chuyển đổi tuần này so với tuần trước, hoạt động xây thương hiệu không có cách nào tự bảo vệ bản thân trong căn phòng đó.
Binet và Field đề xuất đo thương hiệu bằng các chỉ số tích lũy: nhận thức không nhắc (unaided awareness, tức tỷ lệ người nhớ đến thương hiệu khi được hỏi về ngành hàng mà không có gợi ý), mức độ ưa thích, và giá tương đối so với đối thủ theo thời gian. Các chỉ số này không thay đổi trong một tuần và không nên được đo theo tuần. Chu kỳ đo phù hợp thường là quý hoặc năm.
Không tách được hai hệ thống đo lường này thì cuộc tranh luận ngân sách sẽ luôn kết thúc theo một chiều: kích hoạt thắng vì nó có số, thương hiệu thua vì nó không có số nào đủ thuyết phục trong thời gian ngắn.
Nếu bạn chưa bao giờ tách hai khoản này ra trong ngân sách, bước đầu tiên không phải là đạt đúng tỷ lệ 60/40 ngay lập tức. Bước đầu tiên là nhìn thẳng vào cơ cấu chi marketing hiện tại và đặt câu hỏi: có bao nhiêu phần trăm đang nhắm vào người chưa sẵn sàng mua hôm nay? Nếu con số đó gần bằng không, đó là tín hiệu cần điều chỉnh, không nhất thiết theo tỷ lệ 60/40 ngay, nhưng theo hướng đó.
Thương hiệu không phải khoản chi phí cạnh tranh với hiệu suất. Đó là hạ tầng khiến hiệu suất vận hành được về lâu dài. Khi hạ tầng đó bị bỏ đói đủ lâu, chi phí vận hành tăng, không phải vì thị trường thay đổi mà vì thương hiệu không còn đủ sức để hỗ trợ kích hoạt nữa.
Les Binet và Peter Field, The Long and the Short of It (IPA, 2013) và Media in Focus (IPA, 2017). Byron Sharp, How Brands Grow (Oxford University Press, 2010). Kantar BrandZ, báo cáo thường niên. McKinsey & Company, The Business Value of Design (2018).
Binet và Field thừa nhận tỷ lệ này có thể dao động tùy ngành và quy mô. Doanh nghiệp nhỏ với ngân sách hạn chế thường bắt đầu nghiêng về kích hoạt vì áp lực dòng tiền ngắn hạn. Tuy nhiên nguyên lý cốt lõi vẫn giữ nguyên: nếu toàn bộ ngân sách dồn vào chốt đơn mà không có khoản nào xây nhận diện, hiệu quả của từng chiến dịch sẽ giảm dần theo thời gian. Một tỷ lệ thực tế hơn cho SME có thể là 50/50 hoặc 40/60 trong giai đoạn đầu, rồi điều chỉnh khi thương hiệu đã có chỗ đứng.
Dấu hiệu đơn giản nhất là nhìn vào cơ cấu chi: nếu hơn 70 đến 80 phần trăm ngân sách marketing đang chạy vào performance ads, retargeting, và khuyến mãi, bạn đang thiếu hụt phần xây thương hiệu. Dấu hiệu thực tế là chi phí mỗi đơn hàng tăng dần qua các quý dù ngân sách không đổi, đó là triệu chứng của thị trường tiềm năng đang co lại.
Trong khung của Binet và Field, xây thương hiệu là các hoạt động nhắm vào số đông chưa có nhu cầu mua ngay, mục tiêu là tạo liên kết cảm xúc và củng cố nhận diện để khi nhu cầu phát sinh, thương hiệu của bạn là cái tên đầu tiên người ta nghĩ đến. Byron Sharp gọi đây là mental availability, tức sự hiện diện trong trí nhớ. Cụ thể có thể là nội dung giáo dục, thiết kế nhận diện nhất quán, PR, hoặc bất kỳ hoạt động nào tiếp cận người chưa sẵn sàng mua hôm nay.