Trải nghiệm có thể đo được, nhưng đo sai còn tệ hơn không đo.
Trải nghiệm tốt đo bằng hai nhóm chỉ số: hành vi (khách có hoàn thành việc không, mất bao lâu, sai bao nhiêu, có quay lại không) và cảm nhận (khách thấy dễ hay khó, hài lòng tới đâu). Anh / Chị không cần đo tất cả, chỉ cần chọn nhóm gắn với mục tiêu của trang: trang có đích hành động rõ thì nhìn tỷ lệ hoàn thành và chuyển đổi; sản phẩm dùng lặp lại thì thêm giữ chân và mức dễ dùng. Điều quan trọng nhất là phải có mốc nền trước khi sửa, nếu không con số sau khi làm xong không có ý nghĩa gì.
Trải nghiệm tốt không phải là cảm giác mơ hồ. Nó đo được, và khi đo đúng, Anh / Chị sẽ biết thiết kế đang làm được việc hay chỉ trông đẹp. Vấn đề không phải là đo hay không đo, mà là chọn sai thứ để đo rồi ngợp trong bảng số không dẫn tới quyết định nào.
Có hai nhóm chỉ số để đánh giá trải nghiệm, và cả hai đều cần thiết vì chúng bổ sung cho nhau, không thay thế nhau.
Lý do cần cả hai: khách có thể nói hài lòng nhưng hành vi lại cho thấy họ mất gấp đôi thời gian cần thiết để tìm ra nút thanh toán. Chỉ nhìn một nhóm là nhìn một nửa bức tranh.
Khung HEART do Kerry Rodden và cộng sự đề xuất tại Google (công bố tại hội nghị ACM CHI 2010) gợi ý năm nhóm chỉ số lấy người dùng làm trung tâm: Hài lòng (Happiness), Gắn kết (Engagement), Tiếp nhận (Adoption), Giữ chân (Retention) và Hoàn thành việc (Task success). Điểm quan trọng của khung này không phải là dùng cả năm nhóm, mà là chọn nhóm nào phù hợp với mục tiêu dự án hiện tại.
Con số sau khi làm xong chỉ có nghĩa khi có con số trước đó để so. Nếu Anh / Chị chỉ đo một lần sau khi ra mắt phiên bản mới, Anh / Chị không biết mình đã cải thiện hay thụt lùi. Quy trình đúng là đo trước khi sửa, ghi lại mốc nền đó, rồi đo lại sau khi triển khai.
Khi lưu lượng còn nhỏ và chưa đủ dữ liệu hành vi để tin, khảo sát cảm nhận như SUS hoặc SEQ là cách hợp lý để bắt đầu. MeasuringU tổng hợp từ nhiều nghiên cứu và cho thấy điểm SUS trung bình của mẫu vào khoảng 68, nhưng đây là mức trung bình phụ thuộc bối cảnh, không phải ngưỡng tuyệt đối để Anh / Chị đặt mục tiêu cứng.
Nối chỉ số trải nghiệm với kết quả kinh doanh thì lãnh đạo mới thấy giá trị. Đừng báo cáo hoạt động thiết kế, hãy báo cáo chuyện gì đã thay đổi ở doanh thu, chi phí hỗ trợ hoặc tỷ lệ giữ chân.
Nielsen Norman Group, Stop Reporting UX Activity and Report Business Outcomes
Sinh Vũ tin trải nghiệm phải đo được, nhưng chọn ít chỉ số gắn với mục tiêu của Anh / Chị thay vì phủ kín bảng số. Với trang có đích hành động rõ, Sinh Vũ theo tỷ lệ hoàn thành và chuyển đổi. Với sản phẩm dùng lặp lại, thêm giữ chân và mức dễ dùng. Sinh Vũ không hứa một con số chuyển đổi cụ thể trước khi làm vì con số đó phụ thuộc nhiều yếu tố ngoài thiết kế, nhưng luôn dựng cách đo và mốc nền để Anh / Chị biết đầu tư có sinh kết quả không.
Kerry Rodden, Hilary Hutchinson, Xin Fu. Measuring the User Experience on a Large Scale, ACM CHI 2010 (khung HEART). Nielsen Norman Group, Stop Reporting UX Activity and Report Business Outcomes. MeasuringU (Jeff Sauro), 10 Essential Usability Metrics và tổng hợp mốc điểm SUS.
Điểm 68 trên thang SUS (Thang đo khả dụng hệ thống, System Usability Scale) được tổng hợp bởi MeasuringU từ nhiều nghiên cứu và thường được nhắc như mức trung bình của mẫu, không phải ngưỡng tuyệt đối. Anh / Chị nên dùng con số này để so sánh trước và sau khi sửa, hoặc so với phiên bản cũ của chính mình, thay vì xem nó là mức đạt hay trượt. Bối cảnh ngành và đối tượng người dùng ảnh hưởng nhiều đến con số này.
Khi lưu lượng còn nhỏ, dữ liệu hành vi dễ bị nhiễu vì mẫu quá ít. Trong giai đoạn này, Sinh Vũ khuyên Anh / Chị dùng khảo sát cảm nhận như SUS hoặc câu hỏi độ dễ sau mỗi việc (SEQ) để bù vào. Khi lưu lượng lớn hơn, hai nhóm dữ liệu này nên được đối chiếu cùng nhau vì khách có thể nói hài lòng nhưng hành vi lại cho thấy điều khác.