Nhiều Anh Chị chọn mức Cơ bản vì nghĩ chỉ cần ảnh đẹp, sau đó phát hiện ảnh không dùng được cho quảng cáo hay không đồng bộ với nhận diện thương hiệu, phải làm lại từ đầu.
Sự khác biệt giữa ba mức nằm ở bốn chiều: độ sâu của creative direction (định hướng sáng tạo), quy mô ekip chuyên môn, phạm vi quyền sử dụng ảnh, và khả năng kiểm soát chất lượng đầu ra. Mức cao hơn không đơn giản là nhiều ảnh hơn mà là mức độ đồng bộ thị giác và khả năng dùng ảnh đa kênh, đa mục đích được mua sẵn trong gói. Chọn sai mức thường không phải vì ngân sách mà vì chưa hình dung rõ ảnh sẽ được dùng ở đâu và trong bao lâu.
Câu hỏi Sinh Vũ nghe rất thường là: "Mức Tiêu chuẩn với Cao cấp chênh nhau nhiều tiền vậy, thật ra khác nhau chỗ nào?" Câu trả lời ngắn: khác nhau ở bốn chiều quan trọng hơn con số ảnh rất nhiều. Hiểu bốn chiều đó, Anh Chị sẽ chọn được mức phù hợp với mục tiêu thực tế thay vì chọn theo cảm tính hoặc theo ngân sách đơn thuần.
Hầu hết bảng giá trong ngành liệt kê số ảnh và số ngày chụp vì đó là con số dễ so sánh. Nhưng đó không phải là phần tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa nhất.
Mức Cơ bản phù hợp khi: thương hiệu mới cần ảnh thử concept, chiến dịch theo mùa có vòng đời ngắn, hoặc ngân sách dưới 60 triệu. Sinh Vũ gọi đây là mini shoot, thường một ngày, khoảng 5 đến 15 ảnh.
Mức Tiêu chuẩn phù hợp khi: thương hiệu đã có định hướng thị giác rõ và cần làm mới hoặc bổ sung thư viện ảnh đủ dùng cho ba đến sáu tháng content, bao gồm cả nhu cầu chạy paid ads.
Mức Cao cấp phù hợp khi: ra mắt campaign lớn, tái định vị thương hiệu (brand re-launch), cần ảnh dùng đồng thời cho nhiều kênh gồm cả print và paid media, hoặc cần đồng bộ thị giác toàn hệ thống. Sinh Vũ có các gói đến multi-location với celebrity (người nổi tiếng) trong khung này.
Tính nhất quán trong tất cả điểm tiếp xúc với khách hàng củng cố sức mạnh thương hiệu theo thời gian.
Keller, Strategic Brand Management, 2008
Nguyên tắc này có nghĩa thực tế với ngân sách sản xuất ảnh: mức đầu tư cao hơn không chỉ mua được ảnh đẹp hơn, mà mua được khả năng kiểm soát tính nhất quán đó trên nhiều kênh và trong nhiều tháng. Ảnh dùng một lần cho một chiến dịch ngắn không cần cùng mức đầu tư với ảnh sẽ đại diện cho thương hiệu trong nhiều năm.
Khi tư vấn, Sinh Vũ thường hỏi trước hai câu: ảnh này sẽ xuất hiện ở đâu và trong bao lâu? Hai câu đó thường đủ để xác định mức phù hợp mà không cần so sánh bảng giá dài.
Keller, K.L., Strategic Brand Management, 3rd edition, 2008. Sinh Vũ R1 Pricing Tiers, kinh nghiệm thực hành Sinh Vũ Studio.
Phụ thuộc vào hợp đồng cụ thể. Mức Cơ bản thường chỉ bao gồm quyền dùng digital organic (đăng trên kênh tự nhiên, không chạy tiền). Nếu Anh Chị cần chạy paid ads, cần hỏi rõ trước khi ký và thường phải nâng mức hoặc mua bổ sung quyền đó riêng.
Vì chi phí sản xuất ảnh có phần lớn là chi phí cố định không đổi theo số ảnh: set up ánh sáng, di chuyển ekip, thuê location, brief và họp trước. Khi chụp lại lần hai, Anh Chị trả lại toàn bộ chi phí cố định đó, trong khi nếu mua đủ ngay từ đầu thì chi phí đó chỉ tính một lần.
Thường bao gồm digital, print, OOH (quảng cáo ngoài trời) và có thể mở rộng ra nhiều thị trường (multi-territory). Nhưng phạm vi cụ thể vẫn phải đọc kỹ trong hợp đồng vì không có chuẩn chung ngành, mỗi studio định nghĩa khác nhau.