Chiến dịch ra mắt sản phẩm công nghệ thất bại không phải vì thiếu hình ảnh mà vì đổ hết vào một ngày rồi không còn gì để dùng tiếp.
Bán một ý tưởng lớn về lợi ích cho con người, không liệt kê thông số kỹ thuật. Xây một hệ hình ảnh gốc kèm chuyển động để giải thích tính năng trừu tượng. Thiết kế này cần dùng lại được qua trang đích, mạng xã hội và quảng cáo ở nhiều đợt tính năng khác nhau. Đừng đốt hết ngân sách vào một ngày ra mắt. Tài sản thiết kế cần sống đủ lâu để nhận diện được cộng dồn qua thời gian.
Chiến dịch ra mắt sản phẩm công nghệ thường mắc một trong hai lỗi. Một là chỉ khoe thông số rồi tự hỏi sao người xem không hứng thú. Hai là đổ toàn bộ ngân sách vào một ngày ra mắt, đến đợt tính năng kế tiếp thì không còn gì để chạy tiếp. Cả hai đều lãng phí. Sinh Vũ giải thích cách xây chiến dịch hình ảnh để vừa ra mắt hiệu quả vừa tích lũy nhận diện qua thời gian.
Người mua không quan tâm kiến trúc hệ thống của Anh/Chị, trừ khi họ là kỹ sư đánh giá kỹ thuật. Điều họ cần biết là sản phẩm này giải quyết vấn đề gì của mình, và mình sẽ cảm thấy thế nào sau khi dùng nó. Nghiên cứu của System1 Group chỉ ra rằng hình ảnh giàu cảm xúc giúp người xem ghi nhớ lâu hơn hình ảnh liệt kê tính năng. Điều đó không có nghĩa là bỏ qua tính năng. Ý tưởng lớn nên đặt ở phần đầu, còn chi tiết kỹ thuật để ở phần sau, dành cho người đã đủ quan tâm để tìm hiểu sâu hơn.
Với sản phẩm phần mềm, tính trừu tượng là thách thức chính. Không có gì để cầm, không có gì để nhìn thấy ngay. Đây là lúc ẩn dụ hình ảnh và chuyển động (motion graphics) làm việc: chúng biến quy trình ẩn thành thứ mắt thường theo dõi được.
Phần mềm hoạt động bên trong. Người dùng không nhìn thấy dữ liệu di chuyển, không thấy tự động hóa xảy ra, không thấy kết nối được thiết lập. Hình ảnh tĩnh thường chỉ chụp được màn hình, là thứ bất kỳ ai cũng có thể làm giống. Chuyển động cho phép Anh/Chị kể câu chuyện: từ trạng thái trước, qua điểm chuyển đổi, đến kết quả người dùng thật sự muốn.
System1 Group gọi đây là mô-típ chuyển động lặp lại (fluent device). Đó là một ngôn ngữ chuyển động nhất quán, được dùng đi dùng lại qua nhiều đợt truyền thông. Nó vừa giải thích tính năng vừa tích lũy nhận diện thương hiệu theo thời gian. Mô-típ này cần thiết kế ngay từ đầu, không phải để sau khi đã ra mắt rồi mới nghĩ đến.
Sản phẩm công nghệ thường có nhiều nhóm người xem cùng lúc: người dùng cuối dùng sản phẩm hàng ngày, nhà phát triển tích hợp API, người ra quyết định mua ở doanh nghiệp. Mỗi nhóm cần cách kể khác nhau, nhưng nếu mỗi nhóm một phong cách hình ảnh riêng thì thương hiệu bị phân mảnh.
Cách giải quyết là xây một hệ hình ảnh gốc dùng chung: màu sắc, kiểu chữ, mô-típ chuyển động, cách dàn dựng cảnh. Sau đó điều chỉnh nội dung và độ sâu kỹ thuật theo từng nhóm. Người dùng cuối thấy lợi ích và cảm xúc. Nhà phát triển thấy use case (tình huống sử dụng thực tế) và tài liệu. Người mua doanh nghiệp thấy case study và ROI (lợi tức đầu tư). Cùng một ngôn ngữ hình ảnh, khác nội dung.
Gắn thương hiệu và tính năng vào tình huống người dùng thật sự cần đến, và xây tài sản nhận diện khác biệt để thương hiệu hiện ra đúng lúc người mua đang nghĩ đến danh mục sản phẩm.
Ehrenberg-Bass Institute, How Brands Grow
Sinh Vũ xây một ý tưởng lớn làm xương sống, cùng hệ hình ảnh kèm chuyển động để giải thích tính năng trừu tượng. Thiết kế này dùng lại được qua nhiều đợt ra mắt, thay vì chỉ tập trung vào một ngày. Giá trị Sinh Vũ mang lại là một nền hình ảnh dễ hiểu, nhất quán và khác biệt, để đội của khách tự chạy tiếp mà không cần làm lại từ đầu mỗi đợt.
Sinh Vũ không cam kết chỉ số cài đặt hay tỉ lệ chuyển đổi, vì đó là kết quả của nhiều yếu tố ngoài phạm vi thiết kế. Đây là góc nhìn của Sinh Vũ với tư cách bên thiết kế, không phải tư vấn trung lập. Anh/Chị nên cân nhắc cùng với người hiểu sâu về tăng trưởng sản phẩm và phân phối kênh của mình.
Chủ đề: Hình ảnh chiến dịch ra mắt sản phẩm công nghệ. Cẩm nang Sinh Vũ, sinhvu.com
Bấm chọn từng mục Anh / Chị thấy đúng, rồi bấm in hoặc lưu thành PDF để mang theo.
Nếu Anh / Chị đánh dấu phần lớn ở nhóm dấu hiệu trên, đây là lúc nên trao đổi kỹ hơn. Sinh Vũ có thể cùng Anh / Chị soi lại và đề xuất hướng đi.
System1 Group, Introducing Fluent Devices. IPA, Les Binet & Peter Field cùng LinkedIn B2B Institute (nghiên cứu B2B). Ehrenberg-Bass Institute, How Brands Grow (mental availability, category entry points). Kinh nghiệm thực hành Sinh Vũ.
Không nhất thiết. Nếu Anh/Chị đã có hệ hình ảnh gốc với mô-típ chuyển động nhất quán, mỗi đợt tính năng nhỏ chỉ cần nhân bản từ hệ đó mà không cần thiết kế lại từ đầu. Vấn đề thường gặp là mỗi đợt một phong cách mới, khiến nhận diện không cộng dồn và chi phí đội lên.
Cần cả hai, nhưng tỉ trọng khác nhau. Nghiên cứu của Binet & Field cùng LinkedIn B2B Institute gợi ý tỉ trọng khoảng 46 phần trăm cho thương hiệu và 54 phần trăm cho kích hoạt bán trong ngành B2B. Demo và case study là kích hoạt bán, nhưng nếu không có nền thương hiệu thì đội bán hàng phải giải thích lại từ đầu với mỗi khách hàng mới.
Sinh Vũ không cam kết chỉ số cài đặt hay chuyển đổi, vì đó là kết quả của nhiều yếu tố ngoài thiết kế. Ở phía hình ảnh, những gì có thể theo dõi được là mức độ nhất quán qua các kênh, tốc độ nhận diện thương hiệu khi che logo. Ngoài ra còn có phản hồi định tính từ đội bán hàng, về việc khách hàng hiểu sản phẩm dễ hơn hay khó hơn sau chiến dịch.