Ba họ nhựa phổ biến nhất cho bao bì cứng, nhưng mỗi loại phục vụ một công năng khác nhau, chọn nhầm sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và câu chuyện thương hiệu.
PET, PP và PE là ba họ nhựa nhiệt dẻo chiếm phần lớn bao bì chai, lọ, tuýp và màng trên thị trường. PET trong, nhẹ, chắn khí khá tốt; PP trơ hóa chất và bền nhiệt; PE mềm dẻo và chắn ẩm tốt. Anh chị cần hiểu đặc tính từng loại để chọn đúng theo nội dung đựng, không phải chọn theo thói quen hay giá thành đơn thuần.
Khi nói đến bao bì cứng cho mỹ phẩm, dược phẩm hay thực phẩm, phần lớn chai, lọ, tuýp và màng trên thị trường đều thuộc một trong ba họ nhựa: PET, PP hoặc PE. Nhìn từ ngoài, chúng có vẻ giống nhau. Nhưng về tính chất kỹ thuật, mỗi loại phục vụ một công năng riêng, và chọn nhầm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm bên trong, khả năng in ấn, và cả câu chuyện bền vững của thương hiệu.
Ba họ nhựa này đều là nhựa nhiệt dẻo (thermoplastic), tức là có thể đun chảy và tạo hình bằng khuôn. Mỗi loại được nhận dạng bằng mã số khắc dưới đáy bao bì, theo tiêu chuẩn ASTM D7611 do SPI xây dựng từ năm 1988.
Điểm chung của PP và PE là năng lượng bề mặt thấp, nghĩa là mực và keo không bám tự nhiên. Nhà in phải xử lý corona hoặc plasma trước khi in trực tiếp lên bề mặt hai loại này. Đây là thông tin anh chị cần xác nhận với nhà cung cấp gia công.
Dưới đây là khung quyết định theo công năng thực tế:
Chi phí vật liệu của cả ba họ nhựa thuộc nhóm thấp đến vừa so với thủy tinh hay kim loại. Tuy nhiên, nếu anh chị cần chai lọ theo hình dạng riêng, chi phí khuôn là khoản đầu tư đầu của nhà cung cấp chai, không nằm trong phí thiết kế. Khuôn chai thường có chi phí đáng kể và cần sản lượng đủ lớn để hoàn vốn, anh chị nên hỏi thẳng nhà cung cấp trước khi quyết định tạo hình riêng.
Nếu dùng chai lọ có sẵn từ kho mẫu của nhà cung cấp, thời gian sản xuất ngắn hơn nhiều so với đặt khuôn mới. Trường hợp tạo hình riêng, tổng thời gian từ xác nhận thiết kế đến nhận hàng thường rơi vào khoảng 4 đến 8 tuần tùy nhà máy và độ phức tạp của khuôn.
Bao bì nhựa tiếp xúc thực phẩm tại Việt Nam phải đáp ứng QCVN 12-1:2011/BYT của Bộ Y tế. Anh chị cần xác nhận yêu cầu này với nhà cung cấp và yêu cầu giấy chứng nhận tương ứng.
Về giá in: Sinh Vũ phụ trách thiết kế kết cấu bao bì, đồ họa và file chuẩn xuất nhà in. Sinh Vũ không cam kết giá in, không đại diện nhà in và không chịu trách nhiệm về biến động giá vật liệu từ nhà cung cấp. Mọi báo giá sản xuất anh chị cần xác nhận trực tiếp với nhà in hoặc nhà cung cấp chai lọ.
Để Sinh Vũ tư vấn và thiết kế bao bì nhựa phù hợp, anh chị chuẩn bị trước các thông tin sau:
Anh chị gửi thông tin qua form nhu cầu của Sinh Vũ, đội ngũ sẽ phản hồi để xác nhận hướng vật liệu trước khi bắt đầu phác thảo kết cấu.
Propacks (Plastic Recycling Codes 1 to 7 Explained); BlueSky Solutions (Understanding Plastic Types); Wikipedia (Resin identification code, ASTM D7611); ChemLinked (Vietnam Food Contact Material Regulation QCVN 12-1:2011/BYT); kinh nghiệm thực hành Sinh Vũ.
Chai PET thường trong hơn, bề mặt sáng bóng và tiếng khi gõ khá rõ. Chai PP có xu hướng đục nhẹ hoặc trong sữa, mềm tay hơn một chút. Cách chắc chắn nhất là xem mã nhận dạng nhựa (resin code) khắc dưới đáy: PET là mã 1, PP là mã 5. Khi yêu cầu báo giá với nhà cung cấp, Sinh Vũ luôn xác nhận mã nhựa trong hồ sơ kỹ thuật.
PET là loại nhựa được tái chế rộng rãi nhất hiện nay và có hạ tầng thu gom phổ biến hơn. PP tái chế kỹ thuật là được nhưng tỷ lệ thực tế thu gom và tái chế thấp hơn PET đáng kể. PE dạng màng mềm (LDPE) thường chỉ nhận qua một số điểm thu gom chuyên biệt, không vào luồng tái chế đại trà. Nếu thương hiệu muốn câu chuyện bền vững có căn cứ, Sinh Vũ sẽ tư vấn thêm về phiên bản nhựa tái chế sau tiêu dùng (PCR) tương ứng với từng họ nhựa.
Chai, lọ, tuýp và màng PET, PP, PE tiếp xúc trực tiếp thực phẩm tại Việt Nam phải đáp ứng QCVN 12-1:2011/BYT của Bộ Y tế về an toàn vệ sinh dụng cụ, bao bì nhựa tổng hợp. Khi làm việc với Sinh Vũ, anh chị cần xác nhận sản phẩm có tiếp xúc thực phẩm hay không để Sinh Vũ ghi rõ yêu cầu này trong hồ sơ kỹ thuật gửi nhà cung cấp.