Thương hiệu du lịch và dịch vụ không được đánh giá qua logo, mà qua từng vật phẩm và từng câu nhân viên nói tại chỗ.
Với ngành du lịch và dịch vụ, quy chuẩn nhận diện phải phủ tới mọi điểm chạm trải nghiệm và vật phẩm tại chỗ: biển chỉ dẫn, đồng phục, ấn phẩm phòng, thực đơn, quà lưu niệm, ứng dụng đặt chỗ. Quy chuẩn cũng cần có luật giọng nói, không chỉ luật hình ảnh, vì nhân viên tuyến đầu và đối tác tại chỗ chính là nơi cảm nhận thương hiệu thực sự hình thành. Nếu Anh, Chị vận hành nhiều điểm phục vụ, cần thêm mẫu cho đúng từng vật phẩm thật và cổng tra cứu để mọi điểm lấy đúng bản mới nhất.
Khách lưu trú không nhớ logo trên website của Anh, Chị. Họ nhớ tờ hướng dẫn để trong phòng viết lộn xộn, nhân viên lễ tân nói theo kiểu riêng của mình, tấm biển chỉ dẫn ở hành lang dùng font khác với menu nhà hàng. Ngành du lịch và dịch vụ có đặc điểm là thương hiệu được phán xét liên tục tại mọi điểm tiếp xúc vật lý, không phải một lần trên màn hình. Quy chuẩn nhận diện vì vậy phải đi xa hơn logo và màu sắc.
Khi Sinh Vũ làm việc với các đơn vị du lịch và dịch vụ, danh sách điểm chạm cần chuẩn hóa thường bao gồm:
Mỗi thứ trong danh sách này đều là nơi khách nhìn và chạm. Nếu quy chuẩn không phủ tới đây, từng bộ phận sẽ tự làm theo cách của mình, và sản phẩm cuối thường không khớp nhau.
Hình ảnh nhất quán mà lời nói không nhất quán thì khách vẫn cảm thấy lạc điệu. Nhân viên tuyến đầu và đối tác tại chỗ viết email, soạn tin nhắn xác nhận đặt phòng, trả lời đánh giá trực tuyến. Nếu không có luật giọng nói, mỗi người viết một kiểu, và tông thương hiệu sẽ tan vỡ ngay tại những điểm tiếp xúc quan trọng nhất.
Luật giọng nói trong quy chuẩn không cần phức tạp. Cần ghi rõ: thương hiệu này xưng hô thế nào với khách, dùng từ nào và tránh từ nào, tông trong tình huống phàn nàn khác tông trong tình huống chào đón ra sao. Viết theo dạng nên và không nên để người thực hiện đọc là áp được ngay, không cần suy diễn.
Bản đầy đủ với luật điểm chạm và giọng nói: Phù hợp với chuỗi lưu trú, công ty tour nhiều điểm, đơn vị dịch vụ có nhân viên tuyến đầu đông và đối tác vận hành tại chỗ. Khi nhiều người áp quy chuẩn ở nhiều nơi khác nhau, luật phải đủ chi tiết để không cần hỏi lại.
Bản gọn: Phù hợp với một điểm phục vụ duy nhất, ít vật phẩm tại chỗ, đội ngũ nhỏ và kiểm soát tập trung. Bản gọn đủ phủ logo, màu, kiểu chữ, và hướng dẫn dùng cơ bản cho vật phẩm chính.
Ranh giới để chọn không nằm ở quy mô doanh thu mà nằm ở số điểm phục vụ và số người phải tự áp quy chuẩn mà không có người giám sát trực tiếp.
Với chuỗi nhiều điểm trải dài theo địa lý, một câu hỏi thực tế là điểm nào được tùy chỉnh và điểm nào không được động vào. Sinh Vũ quan sát rằng các chuỗi làm tốt đều phân lớp rõ ràng: lõi nhận diện như màu chính, kiểu chữ, logo và tông giọng là không đổi. Lớp thích ứng cho phép điều chỉnh ngôn ngữ bổ sung theo vùng, vật phẩm đặc trưng địa phương, hoặc hình ảnh minh họa mang nét vùng miền. Quan trọng là ranh giới này phải được ghi thành luật trong tài liệu, không để từng điểm tự phán đoán.
Mẫu cho đúng điểm chạm thật để nhìn mẫu là áp được. Không có mẫu thực tế, nhân viên sẽ tự ước lượng và mỗi người ước lượng một cách.
Sinh Vũ, từ thực hành dự án du lịch và bán lẻ dịch vụ
Với các dự án du lịch và dịch vụ, Sinh Vũ xây quy chuẩn theo hai lớp song song: luật hình ảnh và luật giọng nói, kèm thư viện mẫu cho đúng vật phẩm thật mà đơn vị đang dùng. Không làm mẫu chung chung, mà làm mẫu đúng cho thực đơn thật, biển phòng thật, túi lưu niệm thật. Người thiết kế hoặc nhà in nhìn vào là hiểu cần làm gì, không cần giải thích thêm.
Với chuỗi nhiều điểm, Sinh Vũ đề xuất thêm cổng tra cứu nội bộ để mọi điểm phục vụ lấy đúng bản mới nhất, tránh tình trạng điểm này dùng phiên bản cũ trong khi trung tâm đã cập nhật. Cuối dự án luôn có buổi đào tạo ngắn cho đội ngũ sẽ thực sự dùng bộ quy chuẩn, vì tài liệu hay đến đâu mà không ai đọc thì cũng không có tác dụng.
Sinh Vũ A2 cascade và service brief, bao gồm luật hình ảnh, luật giọng nói và thư viện mẫu điểm chạm thực tế trong các dự án du lịch và bán lẻ dịch vụ. Pickcel, nghiên cứu về nhất quán thương hiệu và thích ứng địa phương.
Chưa đủ với ngành du lịch và dịch vụ. Logo và màu là nền, nhưng cảm nhận thương hiệu thực sự hình thành tại những thứ khách chạm tay và nghe trực tiếp: biển chỉ dẫn đặt đúng chỗ, tờ menu trình bày nhất quán, nhân viên nói đúng giọng. Thiếu luật cho những thứ này, mỗi điểm và mỗi nhân viên sẽ tự xử lý theo cách riêng, và khách sẽ cảm thấy điều đó.
Không nhất thiết phải cứng hoàn toàn. Quy chuẩn tốt giữ lõi nhận diện đồng nhất như màu, kiểu chữ, giọng nói chính và chừa chỗ cho thích ứng địa phương hợp lý như ngôn ngữ bổ sung hoặc vật phẩm đặc trưng vùng. Quan trọng là luật phải ghi rõ cái gì được điều chỉnh và cái gì không, để người thực hiện tại chỗ biết ranh giới.
Có. Quy chuẩn chỉ là tài liệu, nó không tự áp vào thực tế. Nhân viên tuyến đầu và đối tác tại chỗ cần được đọc và hiểu luật, đặc biệt phần giọng nói và cách xử lý tình huống thực tế. Sinh Vũ thường kết thúc dự án bằng buổi đào tạo ngắn đúng với đội ngũ sẽ dùng bộ quy chuẩn.