Câu hỏi không phải bao nhiêu trang, mà là đội Anh Chị có thực sự mở ra đọc không.
Cẩm nang hữu dụng là cẩm nang được dùng nhiều nhất, không phải dày nhất. Tài liệu càng dài, xác suất đội ngũ thực sự đọc và áp dụng càng thấp. Nguyên tắc thực hành là xây cốt lõi gọn có ví dụ cụ thể trước, rồi mở rộng theo nhu cầu thực tế khi đội đã quen hệ thống.
Câu hỏi Sinh Vũ nhận nhiều nhất khi giao cẩm nang giọng nói không phải "viết thế này có đúng không" mà là "tài liệu này mình phải đọc hết không". Đó là dấu hiệu rõ nhất cho thấy cẩm nang đang dày hơn mức đội cần. Tài liệu càng dài, xác suất đội ngũ thực sự mở ra và làm theo càng thấp. Đây là một nguyên tắc có căn cứ từ nghiên cứu về tải nhận thức (cognitive load) trong thiết kế tài liệu hướng dẫn của Nielsen Norman Group: tài liệu hiệu quả nhất là tài liệu ngắn nhất vẫn đủ để người dùng hành động đúng mà không cần giải thích thêm.
Trước khi quyết định độ dày, Anh Chị cần trả lời ba câu hỏi này:
Ba câu này quan trọng hơn ngành nghề hay quy mô doanh nghiệp. Một công ty 200 người nhưng chỉ có 3 người viết nội dung không cần cẩm nang dày bằng một công ty 30 người nhưng có 10 người viết ở 5 kênh khác nhau.
Cẩm nang gọn (15 đến 30 trang): Phù hợp với startup, SME, thương hiệu cá nhân, đội nội dung dưới 5 người, hoặc doanh nghiệp mới bắt đầu xây hệ thống. Ở giai đoạn này, thương hiệu còn đang điều chỉnh, làm dày sẽ lãng phí công cập nhật về sau. Mục tiêu là đội hiểu và nhớ được ngay, không cần tra nhiều.
Cẩm nang trung bình (30 đến 60 trang): Phù hợp với doanh nghiệp đang tăng trưởng, có đội marketing riêng, hoạt động trên nhiều kênh và thường xuyên dùng agency hoặc cộng tác viên ngoài. Lúc này cần chuẩn hóa rõ hơn vì nhiều người tiếp xúc với giọng nói thương hiệu, không thể truyền miệng hết được.
Cẩm nang đầy đủ (60 trang trở lên): Dành cho tập đoàn, thương hiệu đa thị trường, cần song ngữ hoặc đa ngữ, nhiều bộ phận dùng song song. Ở quy mô này, rủi ro giọng nói bị loãng hoặc mâu thuẫn giữa các bộ phận là thực sự cao và chi phí làm lại là lớn, nên đầu tư vào tài liệu chi tiết là hợp lý.
Sinh Vũ khuyên dùng cấu trúc module thay vì cẩm nang tuyến tính từ đầu đến cuối, bất kể quy mô. Lý do thực tế: người thiết kế cần đọc phần khác với người viết caption, người viết email nội bộ cần đọc phần khác với người viết bài blog. Khi tất cả nằm trong một tài liệu tuyến tính, ai cũng phải lướt qua phần không liên quan đến mình.
Cấu trúc Sinh Vũ thường giao có hai lớp:
Cộng thêm một trang quick reference (tóm tắt tham chiếu nhanh): một trang duy nhất tóm gọn tất cả nguyên tắc cốt lõi để đội tra nhanh khi đang viết mà không muốn mở toàn bộ tài liệu. Đây là trang được dùng nhiều nhất và thường bị bỏ quên nhất khi làm cẩm nang.
Xây standards (chuẩn tối thiểu bắt buộc) trước, bổ sung guidelines (hướng dẫn linh hoạt) khi có nhu cầu thực tế. Thương hiệu mới nên ưu tiên theo thứ tự này.
Wally Olins, On Brand (2003)
Sinh Vũ không đo cẩm nang bằng số trang mà đo bằng tính năng dùng được: mỗi nguyên tắc có ví dụ kèm theo không, có trang tra nhanh không, có phân theo kênh không, có nói rõ nguyên tắc nào là cứng và nguyên tắc nào là mềm không. Nếu trả lời được bốn câu đó thì dù là 25 trang hay 70 trang, cẩm nang đó đều làm được việc.
Với khách hàng mới, Sinh Vũ thường giao phần lõi gọn trước để đội dùng thực tế trong bốn đến sáu tuần. Sau giai đoạn đó, những chỗ đội hay hỏi lại hoặc hay làm sai sẽ lộ ra rõ hơn bất kỳ buổi workshop nào, và Sinh Vũ bổ sung đúng chỗ đó vào phần mở rộng. Kết quả là cẩm nang phản ánh thực tế vận hành thay vì chỉ là lý thuyết được viết ra một lần rồi để đó.
Nielsen Norman Group, Guidelines for Writing UX Documentation. Wally Olins, On Brand (2003). Eric Ries, The Lean Startup (2011). Kinh nghiệm thực hành Sinh Vũ qua các dự án S3.
Không có con số chuẩn áp dụng cho mọi trường hợp. Startup và SME với đội dưới 5 người thường đủ dùng với 15 đến 30 trang. Doanh nghiệp đang tăng trưởng, có nhiều kênh và dùng agency ngoài thì cần 30 đến 60 trang. Tập đoàn đa thị trường hoặc cần song ngữ có thể lên đến 80 trang. Sinh Vũ không tính trang mà tính tính năng: mỗi nguyên tắc có ví dụ kèm theo không, có phần tra nhanh không, có phân theo kênh không.
Không nên. Làm dày ngay từ đầu tiêu tốn nguồn lực vào những phần chưa có nhu cầu thực tế, và khi thương hiệu thay đổi thì tài liệu dày sẽ tốn nhiều công cập nhật hơn. Cách tốt hơn là xây phần cốt lõi gọn, đưa đội dùng thực tế, quan sát chỗ nào hay hỏi lại hoặc làm sai, rồi bổ sung đúng chỗ đó. Phương pháp này còn giúp cẩm nang phản ánh thực tế vận hành thay vì chỉ là lý thuyết.