Máy nói sai cũng bằng đúng giọng đó, và đó là lý do bạn không thể đọc lướt rồi đăng.
Mô hình AI (trí tuệ nhân tạo) có thể tạo ra thông tin sai một cách trôi chảy và tự tin, không khác gì lúc nó nói đúng. Vì vậy mọi đầu ra chạm khách hoặc mang tên thương hiệu đều bắt buộc phải qua tay người có chuyên môn xác minh trước khi xuất bản. Bỏ khâu này để đổi lấy tốc độ là đánh cược bằng uy tín thương hiệu của chính Anh Chị.
Mô hình AI (trí tuệ nhân tạo) không phân biệt được lúc nào nó chắc và lúc nào nó đoán. Nó trình bày cả hai với cùng một giọng điệu trôi chảy, cùng một độ tự tin. Đây không phải lỗi thiết kế nhất thời mà là vấn đề mang tính cơ chế: cách huấn luyện mô hình hiện nay vô tình thưởng cho việc đưa ra câu trả lời có vẻ chắc chắn hơn là thừa nhận không biết. Kết quả là Anh Chị không thể dùng tai nghe hay mắt đọc để phân biệt câu đúng với câu bịa. Câu duy nhất Anh Chị có thể tin là câu đã được đối chiếu với nguồn độc lập.
Nghiên cứu về entropy ngữ nghĩa (semantic entropy, tức mức độ phân tán ý nghĩa trong các câu trả lời) cho thấy mô hình thường tạo ra các khẳng định tự tin nhưng sai, và những khẳng định này được nói ra không khác gì thông tin đúng về mặt hình thức. Ngoài ra, cách chấm điểm mô hình theo độ chính xác vô tình thưởng cho việc đoán bừa hơn là thừa nhận không chắc. Nghĩa là xu hướng bịa thông tin không phải lỗi có thể vá bằng bản cập nhật, mà là đặc tính nội tại của thế hệ mô hình hiện tại. Anh Chị cần hiểu điều này để không bị bất ngờ khi nó xảy ra.
Không phải mọi đầu ra đều nguy hiểm như nhau. Anh Chị nên phân bổ sức kiểm theo mức độ rủi ro:
Trong các lĩnh vực chuyên môn, chuẩn thực hành là con người trong vòng lặp (human-in-the-loop): coi mô hình là công cụ hỗ trợ và bắt buộc phải kiểm chứng đầu ra trước khi dùng.
PMC, Harm Reduction Strategies for the Thoughtful Use of Large Language Models
Sinh Vũ coi kiểm chứng là ranh giới đạo đức nghề, không phải bước tùy chọn thêm vào khi có thời gian. Mọi thứ AI tạo ra đều là bản nháp cho tới khi con người có chuyên môn xác minh và chịu trách nhiệm bằng tên của mình.
Điều Sinh Vũ làm không phải đọc lại cho đẹp. Điều Sinh Vũ làm là biết chỗ nào mô hình hay bịa trong lĩnh vực thương hiệu, biết đối chiếu nguồn nào, và dám bỏ một đầu ra trông đẹp nếu không kiểm chứng được. Với Anh Chị, câu hỏi thực tế không phải là có nên kiểm không, mà là quy trình kiểm của Anh Chị hiện đang dừng ở đâu và ai đang chịu trách nhiệm cuối cho những gì xuất bản dưới tên thương hiệu của mình.
Detecting hallucinations in large language models using semantic entropy (Nature). Evaluating LLMs for accuracy on the basis of the output distribution incentivizes hallucinations (Nature). Harm Reduction Strategies for the Thoughtful Use of Large Language Models in Healthcare (PMC).
Cần, đặc biệt khi nội dung có con số, dẫn nguồn, hoặc tuyên bố về sản phẩm. Với bản nháp thô nội bộ không chạm khách thì mức kiểm có thể nhẹ hơn. Nhưng mọi thứ đã xuất bản dưới tên thương hiệu đều phải có người chịu trách nhiệm xác minh trước khi đăng.
Không nên dùng cách này làm bước kiểm chính. Nếu mô hình đã bịa một thông tin, nó rất có thể sẽ xác nhận lại chính thông tin đó khi được hỏi. Kiểm chứng đúng nghĩa là đối chiếu với nguồn độc lập bên ngoài, không phải hỏi vòng lại cùng một công cụ.
Mức độ kiểm tỉ lệ với rủi ro uy tín và rủi ro pháp lý của từng ngành. Ngành ràng buộc như tài chính, dược, pháp lý cần chuyên gia ngành xác minh. Các ngành khác vẫn cần kiểm con số, tên riêng, và mọi tuyên bố mang danh thương hiệu trước khi xuất bản công khai.