Một định vị không đi qua được bộ lọc bếp và nhân sự thì chỉ là slogan, không phải thương hiệu.
Định vị chuỗi F&B chỉ nên chốt khi đã kiểm chứng qua ba điều kiện: khách hàng mục tiêu hiểu ngay không cần giải thích, đội ngũ thực hiện được trong điều kiện vận hành thực tế, và biên lợi nhuận của sản phẩm cốt lõi cho phép duy trì cam kết đó. Nếu một trong ba điều kiện chưa đủ, buổi làm việc nên dừng ở bước làm rõ giả định, chưa phải bước chốt. Chiến lược tách khỏi thực tế cửa hàng là nguồn gốc phổ biến nhất của khoảng cách giữa brand story và trải nghiệm khách thật sự nhận được.
Trong các buổi làm việc với chuỗi F&B, Sinh Vũ thường đặt câu hỏi vận hành ngay từ đầu, không đợi đến cuối. Lý do đơn giản: định vị đẹp trên giấy mà đội bếp không thực hiện được, hoặc nhân sự tuyến đầu không hiểu để truyền tải, thì định vị đó chưa tồn tại trong thực tế. Nó chỉ là ý định của founder.
Kevin Lane Keller trong Strategic Brand Management nhấn mạnh rằng brand promise (cam kết thương hiệu) phải được thực hiện nhất quán tại mọi điểm tiếp xúc, bao gồm cả quy trình nội bộ mà khách không nhìn thấy. Với chuỗi F&B, điều đó có nghĩa: nếu định vị là "bữa sáng lành mạnh và nhanh," thì tốc độ phục vụ giờ cao điểm, danh mục nguyên liệu, và cách nhân viên giới thiệu món đều phải phản chiếu cam kết đó. Thiếu bước dịch này, định vị chỉ sống trên bảng hiệu.
Cách kiểm tra đơn giản: đọc tuyên ngôn định vị cho nhân viên ca sáng nghe và hỏi họ điều đó có nghĩa là gì với công việc của họ hôm nay. Nếu câu trả lời trống hoặc mơ hồ, định vị chưa được dịch.
Clayton Christensen đặt câu hỏi cốt lõi trong lý thuyết Jobs to be Done (việc cần hoàn thành): khách hàng không mua sản phẩm, họ thuê sản phẩm để hoàn thành một việc trong cuộc sống của họ. Với F&B, việc đó có thể là: nạp năng lượng giữa hai cuộc họp, có không gian ngồi với đối tác, mang bữa tối về cho gia đình, hoặc chụp ảnh đăng lên mạng xã hội.
Bốn loại việc này đòi hỏi bốn kiểu vận hành khác nhau về tốc độ, không gian, đóng gói và nhân sự. Xác định rõ khách thuê chuỗi của Anh / Chị để làm việc gì là bước bắt buộc trước khi chốt định vị, không phải sau.
G. Lynn Shostack giới thiệu công cụ service blueprint (bản đồ dịch vụ) vào năm 1984: vẽ song song hành trình khách hàng và quy trình hậu trường để phát hiện điểm nào định vị tuyên bố một đằng nhưng vận hành làm một nẻo. Áp dụng vào F&B, có bảy câu hỏi nên trả lời được trước khi chốt:
Nếu quá ba câu chưa có câu trả lời rõ, buổi làm việc nên dừng ở bước làm rõ giả định, chưa phải bước chốt định vị.
Chọn định vị cao cấp (premium) khi: bếp kiểm soát được chất lượng đồng đều, nhân sự đủ kỹ năng phục vụ phân khúc đó, và biên lợi nhuận đủ để đầu tư vào trải nghiệm. Mở rộng chuỗi chậm hơn nhưng nhất quán hơn.
Chọn định vị nhanh, giá trị (value-speed) khi: mô hình vận hành đang mạnh về tốc độ và chuẩn hóa, và khách hàng mục tiêu thuê cửa hàng để hoàn thành việc nhanh. Ưu tiên hệ thống và quy trình hơn là sự tinh tế trong từng chi tiết phục vụ.
Sinh Vũ không tách buổi làm chiến lược ra khỏi câu hỏi vận hành. Nếu founder chưa trả lời được câu hỏi về bếp và nhân sự, định vị chưa chín để chốt. Đây không phải thái độ cầu toàn mà là thực tế: một định vị không vận hành được thì không bảo vệ được thương hiệu khi chuỗi mở rộng. Khách ở cơ sở thứ nhất trải nghiệm một đằng, sang cơ sở thứ ba trải nghiệm một nẻo, định vị tan vỡ từ đó.
Brand promise phải được thực hiện nhất quán tại mọi điểm tiếp xúc, bao gồm cả quy trình nội bộ mà khách không nhìn thấy.
Kevin Lane Keller, Strategic Brand Management
Chốt định vị đúng thời điểm không có nghĩa là chờ đến khi mọi thứ hoàn hảo. Có nghĩa là chốt khi Anh / Chị đã có đủ bằng chứng thực tế để cam kết, và đã chuẩn bị đủ để đội ngũ thực hiện được cam kết đó mỗi ngày.
Kevin Lane Keller, Strategic Brand Management (4th ed.); Clayton Christensen, Competing Against Luck (Jobs to be Done theory); G. Lynn Shostack, "Designing Services That Deliver", Harvard Business Review, 1984.
Không. Định vị là vị trí trong tâm trí khách hàng, tức là lý do khách chọn chuỗi này thay vì chỗ khác. Concept trang trí là một trong nhiều công cụ thể hiện định vị đó ra không gian vật lý. Một cửa hàng có thể được thiết kế đẹp mà hoàn toàn trống rỗng về định vị nếu không có câu trả lời rõ về việc khách đến đây để làm gì.
Cần nếu phản hồi thực tế từ khách mâu thuẫn với định vị ban đầu, hoặc khi mở rộng sang vùng thị trường mới có hành vi khác. Làm lại định vị không có nghĩa là thay toàn bộ thương hiệu. Đôi khi chỉ cần làm rõ lại ưu tiên và dịch nó thành tiêu chuẩn phục vụ cụ thể hơn.
Quan sát đối thủ là cần thiết, nhưng sao chép định vị của họ mà không xét năng lực nội tại của mình là lỗi phổ biến. Định vị của đối thủ được xây dựng trên chuỗi cung ứng, nhân sự và lịch sử thương hiệu của họ. Nếu năng lực của Anh / Chị khác, định vị phù hợp cũng phải khác.