Câu hỏi đúng không phải 'bao nhiêu năm', mà là 'ảnh còn đang làm việc cho thương hiệu không'.
Không có con số cứng, vì tuổi thọ bộ ảnh phụ thuộc vào tốc độ thay đổi sản phẩm, định vị thương hiệu và kỳ vọng của đối tượng khách hàng mục tiêu. Ảnh sản phẩm nền (evergreen product shots, tức ảnh sản phẩm trung tính, ít phụ thuộc xu hướng) thường bền lâu hơn ảnh lifestyle theo mùa hoặc theo chiến dịch. Dấu hiệu quan trọng hơn thời gian là khi ảnh không còn phản ánh đúng sản phẩm thực tế hoặc không còn khớp với kỳ vọng của phân khúc khách hàng Anh Chị đang nhắm tới.
Nhiều chủ thương hiệu hỏi Sinh Vũ câu này sau khi nhận bàn giao bộ ảnh: "Bộ này dùng được mấy năm?" Câu hỏi hoàn toàn hợp lý, nhưng không có câu trả lời theo năm. Điều đáng quan tâm hơn là bộ ảnh còn đang làm việc cho thương hiệu hay không, vì đó mới là chỉ số thật sự.
Trước khi đánh giá tuổi thọ, Anh Chị cần phân biệt rõ mình đang nói đến loại ảnh nào.
Lỗi thường gặp là Anh Chị kỳ vọng ảnh campaign phải dùng được nhiều năm, hoặc ngược lại, cập nhật ảnh brand core quá thường xuyên mà không có lý do chiến lược rõ ràng. Cả hai đều gây lãng phí.
Sinh Vũ nhìn vào bốn yếu tố này khi cùng khách đánh giá bộ ảnh đang có.
Thay vì đợi đến một mốc thời gian nhất định, Anh Chị nên chú ý những tín hiệu sau. Trong brand management (quản trị thương hiệu), đây là biểu hiện của brand image decay, tức hình ảnh thương hiệu dần mất đi khả năng truyền tải đúng thông điệp khi kỳ vọng thị trường đã thay đổi.
Tài sản thương hiệu tích lũy theo thời gian qua nhận diện nhất quán. Thay ảnh quá thường xuyên mà không có lý do chiến lược sẽ làm loãng nhận diện đã tích lũy được. Nhưng giữ ảnh quá lâu dù đã lỗi thời sẽ tạo khoảng cách giữa hình ảnh thương hiệu và thực tế sản phẩm.
David Aaker, Managing Brand Equity, 1991
Sinh Vũ không cam kết con số vòng đời vì đó là quyết định chiến lược của Anh Chị, không phải quyết định kỹ thuật của ekip chụp ảnh. Điều Sinh Vũ làm được là tạo nền tảng để Anh Chị tự đánh giá: mỗi bộ ảnh được bàn giao kèm tài liệu art direction (định hướng hình ảnh) và hướng dẫn sử dụng, ghi rõ loại ảnh, mục đích từng nhóm ảnh và kênh phù hợp.
Khi có tài liệu đó, Anh Chị không cần cảm tính để quyết định. Anh Chị nhìn vào tài liệu, đối chiếu với thực tế thương hiệu hiện tại, và biết ngay phần nào còn dùng được, phần nào cần cập nhật. Đó là cách dùng ảnh có chủ đích, thay vì chạy theo cảm giác hoặc theo phong trào chụp lại mỗi năm.
Aaker, D. (1991). Managing Brand Equity. Free Press. Khung brand image management, tài liệu marketing học thuật (không có tác giả đơn lẻ). Kinh nghiệm thực hành bàn giao bộ ảnh có art direction document của Sinh Vũ.
Chưa thể kết luận chỉ từ số năm. Anh cần kiểm tra ba điều: sản phẩm (bao bì, màu sắc, tính năng) có thay đổi không; ảnh còn đang được đội ngũ và đối tác chủ động dùng không; và phản hồi từ thị trường có cho thấy hình ảnh bị lệch phân khúc không. Nếu cả ba đều ổn, bộ ảnh vẫn đang làm việc tốt.
Ảnh campaign (chiến dịch) được thiết kế để phục vụ một mục tiêu truyền thông có thời hạn, thường theo mùa hoặc theo đợt ra mắt sản phẩm, vòng đời ngắn là điều bình thường. Ảnh brand core là bộ ảnh nền dùng trên website, catalog, tài liệu giới thiệu, cần bền hơn và ít phụ thuộc xu hướng hơn. Lỗi thường gặp là áp kỳ vọng của loại này lên loại kia.
Có bốn tín hiệu đáng tin hơn cảm giác: đội ngũ nội bộ ngần ngại dùng ảnh trong pitch deck; đối tác hoặc nhà phân phối hỏi về ảnh mới; ảnh không còn đúng với sản phẩm thực tế đang bán; và ảnh được chụp trong một phong cách rất đặc trưng của một thời điểm cụ thể mà thị trường đã đi qua. Nếu Anh Chị chưa có tài liệu art direction từ buổi chụp, việc đánh giá này sẽ khó hơn nhiều.