Lệch tông giữa các đợt chụp không phải do đen đủi, mà do thiếu tài liệu kỹ thuật từ đợt đầu.
Muốn đợt chụp sau không lệch tông, Anh Chị cần hồ sơ kỹ thuật từ đợt đầu: thiết lập máy ảnh, sơ đồ ánh sáng, preset chỉnh màu và file ảnh đã duyệt làm mốc tham chiếu. Không có hồ sơ này, dù cùng ekip, cùng địa điểm vẫn có thể lệch vì ánh sáng tự nhiên và thiết bị thay đổi theo thời gian. Khi có đủ tham chiếu, người retouch đợt sau không cần đoán mà làm theo số liệu cụ thể.
Lệch tông giữa hai đợt chụp là một trong những vấn đề thầm lặng nhất trong quản lý bộ ảnh thương hiệu. Khách nhìn vào trang sản phẩm thấy ảnh cũ và ảnh mới cạnh nhau, một bên ấm, một bên lạnh, một bên da nhân vật sáng hồng, một bên ngả vàng. Họ không biết tại sao nhưng cảm giác thiếu tin tưởng xuất hiện ngay. Rủi ro này hoàn toàn kiểm soát được nếu Anh Chị có đủ hồ sơ kỹ thuật từ đợt đầu.
Nhiều người nghĩ rằng chỉ cần giữ cùng photographer và cùng địa điểm là đủ. Trên thực tế, có nhiều biến số thay đổi theo thời gian mà không ai chú ý:
Đây là lý do các đoàn phim chuyên nghiệp luôn có continuity document (tài liệu liên tục) cho mỗi cảnh quay, ghi lại chi tiết ánh sáng, phục trang, vị trí đạo cụ. Nhiếp ảnh thương hiệu nhiều đợt cần logic tương tự.
Nếu Anh Chị đang chuẩn bị cho đợt chụp đầu tiên hoặc vừa hoàn thành, đây là những thứ cần yêu cầu ekip lưu lại:
Riêng với ảnh không gian: nếu địa điểm được cải tạo đáng kể giữa hai đợt, cần quyết định thẳng thắn là có nên dùng chung bộ ảnh không, hay chụp lại toàn bộ. Cố ghép ảnh trước và sau cải tạo vào cùng một bộ thường trông không ổn hơn là ổn.
Khi ảnh giữa các đợt lệch tông, người xem khó kết nối chúng thành cùng một thương hiệu. Nhận diện thương hiệu được xây dựng qua tiếp xúc lặp lại nhất quán, không phải qua một lần ấn tượng mạnh.
Tổng hợp từ David Aaker (1991) và Kevin Lane Keller (1993), khung lý thuyết quản trị thương hiệu
Art direction document mà Sinh Vũ bàn giao sau mỗi dự án không chỉ là tài liệu sáng tạo. Nó là hồ sơ kỹ thuật cho các đợt chụp sau, kể cả khi Anh Chị không quay lại làm việc với Sinh Vũ. Mục tiêu là Anh Chị có đủ thông tin để brief bất kỳ ekip nào khác và vẫn giữ được tính nhất quán.
Đây là lý do Sinh Vũ đầu tư thời gian vào tài liệu hóa ngay từ đầu thay vì chỉ bàn giao file ảnh. File ảnh dùng được ngay hôm nay. Tài liệu kỹ thuật bảo vệ Anh Chị trong hai, ba năm tới.
Aaker, D. (1991). Managing Brand Equity. Free Press. Keller, K.L. (1993). Conceptualizing, Measuring, and Managing Customer-Based Brand Equity. Journal of Marketing. Thực hành continuity trong sản xuất phim và quảng cáo, tiêu chuẩn ngành.
Vẫn cần kiểm tra. Ánh sáng tự nhiên thay đổi theo mùa, thiết bị đèn có thể được thay hoặc hiệu chỉnh lại, và thói quen retouch của từng người cũng dịch chuyển theo thời gian. Cách an toàn nhất là chụp thử vài frame ngay đầu buổi, so sánh với ảnh đã duyệt đợt trước trước khi chụp toàn bộ.
Điều này xảy ra khá thường. Giải pháp là bàn giao cho người retouch mới bộ file tham chiếu gồm: ảnh đã duyệt đợt trước, preset hoặc LUT (bảng tra màu) đã dùng, và giá trị màu thương hiệu dạng số. Người retouch mới làm theo số, không làm theo cảm quan. Nếu không có preset, cần trích xuất thông số màu từ ảnh cũ và dùng đó làm đích đến.
Cần cẩn thận. Nếu màu bao bì mới lệch so với cũ dù chỉ nhẹ, đặt cạnh nhau trong cùng catalog sẽ thấy ngay. Sinh Vũ khuyên Anh Chị đối chiếu bao bì mới và cũ dưới cùng điều kiện ánh sáng trước khi quyết định dùng chung hay chụp lại toàn bộ dòng sản phẩm đó.