Trước khi nghĩ đến màu sắc hay đồ họa, Anh Chị cần biết sản phẩm của mình sợ gì, rồi mới chọn vật liệu đúng.
Quyết định vật liệu bao bì thực phẩm và đồ uống đi từ ba câu hỏi: sản phẩm nhạy với gì (oxy, ẩm, ánh sáng, mùi), yêu cầu an toàn tiếp xúc thực phẩm là gì, và bán qua kênh nào. Sản phẩm càng nhạy càng cần rào cản (barrier) mạnh, chẳng hạn cà phê rang cần màng ghép có lớp nhôm và van thoát khí. Hàng khô ít nhạy thì nên dùng cấu trúc đơn giản hơn, vừa tiết kiệm vừa dễ tái chế.
Nhiều chủ thương hiệu thực phẩm bắt đầu từ câu hỏi sai: "Bao bì này trông đẹp không?" Câu hỏi đúng cần hỏi trước là: "Sản phẩm của mình sợ gì?" Oxy, độ ẩm, ánh sáng hay mùi từ bên ngoài thấm vào đều có thể phá hỏng chất lượng trước hạn dùng. Vật liệu bao bì tốt là vật liệu chặn đúng thứ sản phẩm cần chặn, không phải vật liệu đắt tiền nhất hay đẹp nhất.
Sinh Vũ bắt đầu mọi dự án bao bì thực phẩm bằng ba câu hỏi theo thứ tự sau:
Màng ghép nhiều lớp có lớp nhôm và van thoát khí: Dành cho sản phẩm nhạy cao như cà phê rang, bột gia vị, snack chiên dầu. Lớp nhôm cho rào cản oxy và ánh sáng tốt nhất. Van thoát khí (one-way valve) cho phép khí CO₂ từ cà phê rang thoát ra mà không để oxy lọt vào. Nhược điểm: khó tái chế vì cấu trúc nhiều lớp không tách được.
Đơn vật liệu hoặc giấy: Dành cho hàng khô ít nhạy như trà khô nguyên lá đóng hộp, bánh quy cứng, ngũ cốc. Chi phí thấp hơn, dễ tái chế hơn. Nếu Anh Chị có mục tiêu bền vững và sản phẩm cho phép, đây là hướng nên ưu tiên.
Thủy tinh hoặc lon kim loại: Dành cho đồ uống cần rào cản cao và cảm giác chất lượng. Thủy tinh trung tính về mùi, tái sử dụng được, nhưng nặng và dễ vỡ. Lon nhôm nhẹ hơn, rào cản tốt, phù hợp phân phối rộng.
Ưu tiên cấu trúc đơn vật liệu tái chế được cho các mã ít nhạy. Chỉ dùng màng ghép nhiều lớp khi độ nhạy sản phẩm bắt buộc.
CEFLEX D4ACE Guidelines, Design for a Circular Economy
Trong các dự án thực phẩm và đồ uống đã làm, Sinh Vũ nhận thấy lỗi phổ biến nhất không phải chọn sai màu hay font chữ, mà là chọn sai cấu trúc màng ngay từ đầu. Khi cấu trúc màng đã sai, đồ họa đẹp đến mấy cũng không cứu được chất lượng sản phẩm.
Quy trình của Sinh Vũ đặt câu hỏi vật liệu vào tuần nghiên cứu đầu tiên, trước khi vẽ bất kỳ đường nét nào. Với cà phê đặc sản theo vùng trồng, ví dụ, thông tin vùng trồng in trên túi có van thoát khí cần khớp cả về cấu trúc lẫn đồ họa. Sinh Vũ cũng kết nối nhà in phù hợp và kiểm tra tuân thủ nhãn thực phẩm trước khi chạy số lượng lớn, để tránh phát hiện vấn đề ở giai đoạn tốn kém nhất.
Anacotte, Coffee Bean Packaging Guide. QCVN 12-1:2011/BYT, Bộ Y tế Việt Nam. CEFLEX D4ACE Guidelines, Design for a Circular Economy. Kinh nghiệm thực hành của Sinh Vũ Studio với ngành thực phẩm và đồ uống.
Màng ghép nhiều lớp (laminate) kết hợp nhiều vật liệu, chẳng hạn nhựa, nhôm, giấy, để đạt rào cản cao. Đơn vật liệu chỉ dùng một loại, thường dễ tái chế hơn nhưng rào cản thấp hơn. Với sản phẩm nhạy như cà phê rang hay gia vị xay, màng ghép là lựa chọn hợp lý. Với hàng khô ít nhạy như bánh quy cứng hoặc trà khô đóng hộp, đơn vật liệu hoặc giấy thường đủ dùng và tối ưu chi phí hơn.
QCVN 12:2011/BYT là quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp thực phẩm, do Bộ Y tế ban hành. Bất kỳ vật liệu nào chạm vào thực phẩm đều phải đáp ứng giới hạn thôi nhiễm theo quy chuẩn này. Nếu Anh Chị xuất khẩu, cần kiểm tra thêm chuẩn của thị trường đích. Sinh Vũ kiểm tra tuân thủ điều này trước khi chạy số lượng lớn để tránh vướng mắc ở khâu công bố sản phẩm.