Câu hỏi không phải về tốc độ mà về chi phí thật sự: trả trước một lần hay trả rải rác mãi mãi.
Nếu cùng một nhóm khách hàng sẽ thấy thương hiệu của Anh/Chị trên nhiều kênh trong cùng một giai đoạn, hãy đầu tư một hình gốc chung. Để mỗi kênh tự làm chỉ tiết kiệm ở bước đầu, còn về sau chi phí phối hợp, sửa hình và kéo lại nhất quán thường cao hơn. Trường hợp hợp lý để mỗi kênh tự làm là khi các kênh phục vụ phân khúc hoàn toàn khác nhau, hoặc khi chiến dịch đang ở giai đoạn thử nghiệm chưa rõ thông điệp nào hiệu quả.
Câu hỏi này thường xuất hiện khi chiến dịch đang cận deadline và ngân sách đang bị co lại. Anh/Chị nhìn vào danh sách kênh cần thiết kế, nghĩ rằng để mỗi kênh tự xử sẽ nhanh hơn và đỡ phối hợp hơn. Đó là lý luận hợp lý ở bề mặt. Nhưng quyết định này ảnh hưởng không chỉ đến chiến dịch hiện tại mà còn đến cách khách hàng nhìn nhận thương hiệu tích lũy theo thời gian.
Làm hình theo kiểu mỗi kênh một hướng không miễn phí, chỉ là chi phí bị phân tán và khó nhìn thấy hơn. Mỗi lần một kênh tự quyết định màu sắc, kiểu chữ hay cách đặt thông điệp, sẽ có người mất thời gian để làm điều đó. Khi cộng lại thời gian của nhiều người ở nhiều kênh, cộng thêm chi phí sửa hình khi không khớp nhau và công sức kéo lại nhất quán sau chiến dịch, con số không nhỏ hơn làm hình gốc một lần.
Điểm khác biệt quan trọng là: làm hình gốc chung phân bổ chi phí sáng tạo vào đầu, có thể lên kế hoạch và kiểm soát được. Còn chi phí phân tán theo kiểu mỗi kênh tự làm thường chỉ thấy rõ khi đã muộn.
Nên đầu tư hình gốc chung khi:
Có thể để mỗi kênh tự làm khi:
Trong truyền thông tích hợp (integrated marketing communications), mỗi điểm tiếp xúc cần truyền tải một thông điệp nhất quán cả về ngôn ngữ lẫn hình ảnh. Khi mỗi kênh tự quyết định, rủi ro phân mảnh (fragmentation, tức hình ảnh bị rời rạc, thiếu liên kết) là có thực và tích lũy theo thời gian.
Sự nhất quán hình ảnh qua thời gian và kênh là một trong các nền tảng của brand equity (giá trị thương hiệu). Đây không phải việc làm cho đẹp mà là việc xây dựng nhận biết có hệ thống.
David Aaker, Building Strong Brands (1996)
Nói đơn giản hơn: khách hàng không đọc brief thiết kế của Anh/Chị. Họ chỉ thấy hình ảnh. Nếu hình ảnh trên Facebook trông khác với hình ảnh trên biển quảng cáo, trong mắt họ đó có thể là hai thương hiệu khác nhau.
Khi Sinh Vũ làm hệ hình ảnh chiến dịch, deliverable (đầu ra bàn giao) không chỉ là file hình. Bao gồm cả key visual, adaptation guide cho từng kênh đã xác định, và tài liệu brief cho team thực thi. Lý do đơn giản: hình đẹp nằm trong folder không tạo ra nhất quán. Hình được dùng đúng mới tạo ra nhất quán.
Giải pháp trung gian phù hợp khi ngân sách thực sự hạn chế là một key visual đơn giản kết hợp brand guidelines đủ rõ. Điều này cho phép từng kênh co giãn định dạng mà không phá vỡ tính nhất quán tối thiểu. Chi phí ở đây nằm ở việc làm guidelines rõ ràng, không nhất thiết phải làm hình phức tạp. Đây không phải thỏa hiệp tệ, chỉ cần biết mình đang thỏa hiệp ở đâu.
Aaker, D.A. Building Strong Brands (1996), chương về brand equity và brand consistency. Kotler & Keller, Marketing Management, chương về truyền thông tích hợp (IMC). Quan điểm quy trình nội bộ Sinh Vũ.
Có. Một key visual (hình ảnh chủ đạo) đơn giản kết hợp brand guidelines (hướng dẫn thương hiệu) đủ rõ cho phép từng kênh tự co giãn định dạng mà không phá vỡ nhất quán. Chi phí ở đây nằm ở việc làm guidelines rõ ràng, không nhất thiết phải làm hình phức tạp.
Năng lực thiết kế của từng kênh không đồng nghĩa với việc họ có cùng hiểu biết về chiến dịch. Khi không có hình gốc và tài liệu hướng dẫn, mỗi người sẽ diễn giải thông điệp theo cách riêng và kết quả là thương hiệu trông như nhiều thực thể khác nhau. Đội in-house mạnh nhất vẫn cần một điểm xuất phát chung.
Không. Hình gốc chung là ý tưởng hình ảnh và cảm xúc được thống nhất một lần, sau đó có adaptation guide (hướng dẫn điều chỉnh) để từng kênh co giãn sang đúng tỷ lệ và định dạng của mình. Giao cùng một file cho tất cả kênh là hiểu sai và thường dẫn đến hình bị crop sai hoặc mất yếu tố quan trọng.